Inti DharmaInti Dharma
Kinh điển
Đại Thừa — Tạng Bắc Truyền · Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh (Việt dịch)

Đại Trí Độ Luận quyển 38

Tên chữ Hán:大智度論

📖9,362 từ · ~37 phút đọc
2

Lưu tiến độ đọc kinh

Tạo tài khoản miễn phí để lưu bài kinh, đánh dấu tiến độ và tiếp tục lộ trình học mỗi ngày.

Tạo tài khoản
Bản dịch đầy đủ (Tiếng Việt)

LUẬN ĐẠI TRÍ ĐỘ - QUYỂN 38

QUYỂN 38

GIẢI THÍCH PHẨM BỐN: YÃNG SANH

Phần 1

KINH: Xá-lợi-phất bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn! Bồ-tát ma-ha-
tát hành Bát-nhã Ba-la-mật, tu tập tương ưng như vậy, từ chỗ nào chết
rồi sanh đến đây, từ đây chết sẽ sanh cõi nào?
Phật bảo Xá-lợi-phất: Những Bồ-tát ma-ha-tát ấy tu tập tương ưng
như vậy, hoặc từ nước Phật ở phương khác sanh đến đây, hoặc từ cung
trời Đâu-suất sanh đến đây, hoặc từ trong cõi người sanh trở lại đây.
Xá-lợi-phất! Những Bồ-tát từ nước Phật ở phương khác sanh đến
đây, mau cùng Bát-nhã Ba-la-mật tương ưng. Cùng Bát-nhã Ba-la-mật
tương ưng, nên khi xả thân ở đây, các pháp thâm diệu đều hiện trước
mắt, sau trở lại cùng Bát-nhã Ba-la-mật tương ưng, ở chỗ sanh ra thường
gặp chư Phật.
Xá-lợi-phất! Có vị Bồ-tát một đời bổ xứ ở trên trời Đâu-suất khi
mệnh chung, sanh đến trong đây, vị Bồ-tát ấy không mất sáu Ba-la-mật,
tùy sanh nơi nào, hết thảy môn Đà-la-ni, các môn tam-muội, mau hiện
trước mặt.
Xá-lợi-phất! Có Bồ-tát mệnh chung ở trong cõi người, trở lại sanh
trong cõi người; trừ vị Bồ-tát bất thối chuyển, Bồ-tát ấy căn độn, không
thể mau cùng Bát-nhã Ba-la-mật tương ưng, các môn Đà-la-ni, môn
tam-muội không thể mau hiện trước mắt.
LUẬN: Hỏi: Trong Bát-nhã Ba-la-mật, chúng sanh rốt ráo không
thể có được, như phẩm trên nói: “Xá-lợi-phất! Biết hết thảy chúng sanh
không thể có được, các tên gọi sai khác về chúng sanh là thọ giả, mạng
giả, cho đến tri giả, kiến giả... đều không, không thật, cổ sao trong đây
THÍCH KINH LUẬN 2
hỏi từ đâu sanh đến, chết đi về đâu?” Tên gọi khác của chúng sanh tức
là Bồ-tát, chúng sanh không thì Bồ-tát cũng không. Lại trong kinh này
nói: “Bồ-tát chỉ có tên gọi, không có thật pháp”, sao nay Xá-lợi-phất lại
hỏi câu ấy?
Đáp: Trong Phật pháp có hai đế: 1. Thế đế. 2. Đệ nhất nghĩa đế. Vì
thế đế nên nói có chúng sanh, vì đệ nhất nghĩa đế nên nói chúng sanh
không thể có được.
Lại có hai hạng là có người biết tướng tên gọi, có người không biết
tướng tên gọi, ví như mật hiệu trong quân lính, có người biết, có người
không biết.
Lại có hai hạng là có người mới tập hành, có người tập hành lâu; có
người chấp trước, có người không chấp trước; có người biết ý người khác,
có người không biết ý người khác (tuy có ngôn từ, biết gởi vào ngôn
từ để tuyên lý -ND). Vì người không biết tên gọi, mới tập hành, người
chấp trước, người không biết ý người khác, nên nói không chúng sanh;
vì người biết tướng tên gọi, người tập hành lâu, không chấp trước, người
biết ý người khác, nên nói có chúng sanh.
Xá-lợi-phất dùng mắt trời, thấy rõ sáu đường chúng sanh sống chết
lành dữ, không có nghi ngờ, chỉ không biết các Bồ-tát từ vô lượng vô số
thế giới từ phương khác sanh đến, nên mới hỏi có các đại Bồ-tát ở đây
mệnh chung, có sanh đến vô lượng vô số cõi Phật ở phương khác chăng,
Thiên nhãn Xá-lợi-phất không thấy được điều đó cho nên hỏi.
Lại nữa, có người Thanh văn, thấy Bồ-tát hành sáu Ba-la-mật ở lâu
trong sanh tử, lậu hoặc chưa hết, nhóm đủ thứ trí tuệ về kinh sách trong
ngoài, mà chẳng chứng thật tế, chưa khỏi sanh già bệnh chết, thương
mà khinh, nói rằng: Hạng này mệnh chung, vì ba độc chưa hết, sẽ đọa
chỗ nào? Như Phật dạy, hạng người phàm phu thường mở cửa ba đường
ác, làm khách đối với ba đường thiện, làm chủ nhà đối với ba đường ác.
Sức ba độc mạnh, chất chứa tội nghiệp từ vô lượng kiếp, nên không thủ
chứng Niết-bàn, sắp chịu đủ thứ khổ, rất đáng thương xót!
Hạng tiểu thừa thương xót khinh chê Bồ-tát như vậy.
Xá-lợi-phất là vị tướng đại pháp đệ nhất giữa tất cả Thanh văn, biết
có việc như thế, nhưng muốn khiến chúng sanh khởi tâm cung kỉnh đối
với Bồ-tát, cho nên hỏi.
Phật lấy ba việc đáp: 1. Từ cõi Phật ở phương khác sanh đến. 2. Từ
trên trời Đâu-suất sanh đến. 3. Từ trong cõi người sanh đến.
Hỏi: Như từ cõi Phật ở phương khác sanh đến, vì ở xa nên Xá-lợi-
phất không biết, còn ở trên trời Đâu-suất, trong cõi người đến, làm sao
không biết (mà còn hỏi)?
Đáp: Xá-lợi-phất không biết từ cõi Phật ở phương khác đến nên hỏi,
song Phật vì chỗ cần nên phân biệt, nên đáp từ ba nơi sanh đến.
Hỏi: Thế gian có sáu đường, cớ sao trong đường trời phân biệt nói
từ trời Đâu-suất đến, còn trong đường người không phân biệt nơi chốn.
Nói từ cõi Phật ở phương khác đến cũng không phân biệt đó là đường
trời, hay đường người?
Đáp: Trong sáu đường, ba đường ác vì nhân duyên thọ khổ, tâm trí
độn, không thể đắc đạo nên không nói.
Hỏi: Từ trong ba đường ác sanh đến cũng có người đắc đạo như Tỳ-
kheo Ngưu Túc, đệ tử Xá-lợi-phất, năm trăm đời sanh trong loài trâu, đời
cuối cùng được làm thân người, chân còn giống trâu mà chứng được đạo
quả A-la-hán. Lại có Tỳ-kheo Ma-thâu-bà-thi-tha, năm trăm đời sanh
trong loài khỉ, đời cuối cùng được làm thân người, chứng A-la-hán đủ ba
minh sáu thần thông, vẫn còn ưa nhảy nhót, vì tập khí còn sót lại. Hạng
như vậy đều đắc đạo, cớ sao nói không thể?
Đáp: Tuy có người đắc đạo, ít quá không đủ nói. Lại hạng người
này, đời trước gieo sâu thiện căn Niết-bàn, vì sai lầm chút ít phải đọa
đường ác, trả hết tội, thiện căn Niết-bàn thành thục, nên đắc thành đạo
quả. Trong đây không nói đắc đạo quả Thanh văn, vì thân trước thân sau
thứ lớp chỉ vì chứng đắc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Ví như từ
tâm nhơ cấu khởi lên, không thể thứ lớp vào vô lậu, mà trung gian phải
có tâm thiện hữu lậu (mới được vào vô lậu - ND) vì tâm vô lậu quý, cho
nên nói từ ba đường ác đi ra, không thể đắc đạo thứ lớp được tâm Vô
thượng Chánh đẳng Chánh giác. Trời, người, A-tu-la thì không như vậy
(không như ba đường ác - N D).
Ba cõi trời dưới là Tứ thiên vương, Đao-lợi, Tu-dạ-ma, kiết sử mãnh
lợi mà sâu; hai cõi trên là Tự-tại. Tha-hóa-tự-tại, kiết sử sâu mà không
mãnh lợi; trời Đâu-suất, kiết sử không sâu không mãnh lợi. Vì sao? Vì
thường có Bồ-tát thuyết pháp, thế nên không nói trời khác mà nói trời
Đâu-suất, hoặc có mà vì ít nên không nói.
Các trời ở cõi sắc, ai đắc đạo rồi thì không còn sanh xuống cõi này,
ai chưa đắc đạo thì vui đắm thiền vị nên không sanh xuống. Vì đắm thiền
vị, trí tuệ cũng trì độn, nên không nói. A-tu-la đồng với hai trời Tứ thiên
vương, Đao-lợi nên không nói.
Từ cõi Phật ở phương khác sanh đến: Từ trước chư Phật sanh đến
THÍCH KINH LUẬN 2
trong đây, các căn mãnh lợi. Vì sao? Vì đã trừ tội chướng trong vô lượng
vô số kiếp. Lại gặp được chư Phật tùy tâm dạy bảo, như mài dao gặp đá
tốt thì sắt bén. Lại thường nghe tụng, chánh ức niệm Bát-nhã Ba-la-mật,
cho nên mãnh lợi. Các nhân duyên như vậy thì tâm Bồ-tát mãnh lợi.
Từ cõi người đến: ở đây đệ tử Phật nghe Bát-nhã Ba-la-mật, nhóm
các công đức, khi đã xả thân, trở lại sanh ở đây. Ớ quốc độ khác, tuy
không có Phật, nhưng được gặp Phật pháp, nghe thọ trì, đọc tụng, chánh
ức niệm, tùy sức nhiều ít, tu phước đức trí tuệ, người này các căn tuy độn
mà đủ sức thọ Bát-nhã Ba-la-mật, chỉ vì không thấy Phật hiện tại nên
tâm độn.
Từ nước Phật ở phương khác đến căn mãnh lợi nên tu hành Bát-
nhã Ba-la-mật mau được tương ưng. Vì tương ưng nên thường gặp Phật.
Nhân duyên gặp Phật, như trước đã nói.
Hỏi: Trên trời Đâu-suất; sao chỉ nói Bồ-tát một đời bổ xứ, không
nói hai đời ba đời?
Đáp: Chỗ thân người ở đầy tội kiết phiền não, chỉ đại Bồ-tát ở đó
không bị nhiễm lụy, như ngỗng vào nước, nước không làm ướt. Bồ-tát
như vậy, các pháp thế gian không làm nhiễm trước. Vì sao? Vì Phật tự
nói nhân duyên: vì không mất sáu Ba-la-mật, các môn Đà-la-ni, các
môn tam-muội, mau hiện trước mắt, nên Bồ-tát ấy ở thế giới đó có thể
lợi ích chúng sanh, các Bồ-tát khác, phân bố mười phương, ví như người
đại trí tuệ đã ở một chỗ, thì các người trí tuệ khác đi đến chỗ khác, thế
nên không nói.
Lại nữa, có người nói chỉ nói Bồ-tát lớn, không giới hạn nhỏ.
Lại nữa, từ trong các cõi trời khác đến, sẽ nói rộng ở chỗ khác.
Chết trong cõi người lại sanh trong cõi người thì không như hai chỗ
trên, vì thân người đại địa nhiều nên thân nặng tâm độn, vì tâm tâm số
pháp theo thân thành mạnh yếu, lại do các nghiệp kiết sử sanh, còn từ
hai chỗ kia sanh đến là pháp thân Bồ-tát, biến thân vô lượng để độ chúng
sanh, nên sanh đến trong cõi này. Từ trong cõi người đến, đều là thân
xác thịt.
Hỏi: Bồ-tát bất thối chuyển, không do kiết nghiệp thọ thân, cớ sao
nói ở trong cõi người?
Đáp: Vì sanh đến cõi này mới được bất thối chuyển, chừa bỏ thân
xác thịt; vì độn căn nên các môn Đà-la-ni, tam-muội không mau hiện
trước mắt. Vì không mau hiện trước mắt nên không cùng Bát-nhã tương
ưng.
KINH: Này Xá-lợi-phất! Ông hỏi Bồ-tát ma-ha-tát cùng Bát-nhã
Ba-la-mật tương ưng, mệnh chung ở đây sẽ sanh đến chỗ nào?
Này Xá-lợi-phất! Bồ-tát ma-ha-tát ấy từ một nước Phật sanh đến
một nước Phật, thường gặp chư Phật, trọn không lìa Phật.
Này Xá-lợi-phất! Có Bồ-tát ma-ha-tát không dùng phương tiện vào
Sơ thiền cho đến đệ Tứ thiền, cũng hành sáu Ba-la-mật. Bồ-tát ma-ha-
tát ấy được thiền nên sanh cõi trời sông lâu, khi ở nơi đó mệnh chung,
sanh đến cõi này, được làm thân người, gặp Phật, Bồ-tát ấy các căn
không mãnh lợi.
Này Xá-lợi-phất! Có Bồ-tát ma-ha-tát vào Sơ thiền cho đến đệ Tứ
thiền, cũng hành Bát-nhã Ba-la-mật. Vì không dùng phương tiện nên khi
bỏ thiền thì sẽ sanh vào cõi Dục, Bồ-tát ấy các căn cũng độn.
Này Xá-lợi-phất! Có Bồ-tát ma-ha-tát vào Sơ thiền cho đến đệ Tứ
thiền, nhập từ tâm cho đến xả tâm, vào Hư không xứ cho đến Phi hữu
tưởng Phi vô tưởng xứ, tu Bốn niệm xứ, cho đến Tám thánh đạo phần,
hành Mười lực cho đến đại từ đại bi, Bồ-tát ấy dùng lực phương tiện,
không tùy thiền sanh, không tùy tâm vô lượng sanh, không tùy bốn vô
sắc định sanh, mà sanh ở chỗ có Phật. Thường không rời hạnh Bát-nhã
Ba-la-mật. Bồ-tát như vậy, trong hiền kiếp sẽ chứng đắc Vô thượng
Chánh đẳng Chánh giác.
LUẬN: Hỏi: Xá-lợi-phất hỏi đời trước đời sau, cớ sao trong đời
trước Phật đáp ba cách, trong đời sau thì rộng phân biệt?
Đáp: Người phàm vì mắt thịt không thấy quá khứ vị lai, nên sanh
tà nghi; tuy nghi hai đời, mà đời vị lai sẽ chịu cho nên rộng phân biệt.
Ví như lửa đã tắt, không còn cầu cứu, chỉ dùng nhiều phương tiện phòng
ngừa lửa vị lai. Lại như trị bệnh, bệnh đã dứt không còn trị nữa, chỉ trị
bệnh sắp phát sanh.
Lại nữa, Phật biện tài vô lượng tùy ý, nên Xá-lợi-phất hỏi ít mà
Phật giải nói nhiều. Như hỏi một việc cùng Bát-nhã Ba-la-mật tương ưng
mà Phật phân biệt nhiều cách, ví như người nghèo đi theo người giàu
ưa bố thí để xin, xin tuy ít mà cho rất nhiều, Phật cũng như vậy, giàu có
đầy đủ vô lượng Phật pháp vô lậu, do tâm đại từ bi ưa làm bố thí, nhân
Xá-lợi-phất hỏi ít. Phật vì đại chúng phân biệt nói nhiều.
Lại nữa, trong Bát-nhã Ba-la-mật, các nhân duyên, thí dụ, phần
nhiều để nói về Không pháp. Có người mới phát tâm chấp thủ tướng
không, đắm tướng không ấy, nên đối với nghiệp nhân duyên sanh tử,
sanh nghi: nếu hết thảy pháp rốt ráo không, không đến không đi, không
THÍCH KINH LUẬN 2
ra không vào, cớ sao chết rồi mà còn có sanh? Pháp hiện tại mắt thấy
còn không thể có, huống gì sau khi chết sanh đến chỗ khác, mắt không
thấy được mà lại có?
Vì dứt các tâm tà nghi điên đảo như vậy, nên Phật dạy rộng các
nhân duyên có sanh có tử.
Hỏi: Không có nhân duyên chết sông. Vì sao? Vì người chết rồi tiêu
diệt. Có ba cách diệt: 1. Lửa đốt thành tro. 2. Trùng ăn thành phân. 3.
Cuối cùng thành đất. Nay chỉ thấy diệt mất, không thấy còn có ai đi ra
thọ thân sau? Vì không thấy nên biết là không?
Đáp: Nếu ông cho thân diệt liền không, vậy làm sao có chúng sanh
đời trước huân tập lo mừng, sợ hãi... như trẻ con khi mới sanh ra hoặc
khóc hoặc cười; vì trước có huân tập lo mừng, nên nay không ai dạy mà
lo mừng tiếp tục phát sanh. Lại như trâu nghé mới sanh ra đã tìm tới vú
sữa; loài heo dê sanh ra chưa bao lâu đã biết việc phối hợp đực cái. Con
cùng một cha một mẹ mà đẹp, xấu, nghèo, giàu, thông minh, đần độn
không giống nhau. Nếu không có nhân duyên đời trước, thì không nên
có sai khác như vậy.
Các nhân duyên như vậy, biết có đời sau.
Lại trước kia ông nói không thấy có kẻ đi riêng? Trong thân người
chẳng phải riêng con mắt thấy được mà cả sáu căn đều biết. Có pháp
nghe được, có pháp ngửi được, có pháp nếm được, có pháp chạm được,
có pháp biết được. Pháp nghe được còn không thể thấy, huống gì có thể
biết. Pháp “có sanh có tử”, cũng có thể thấy, cũng có thể biết. Ông mắt
thịt nên không thấy, người có mắt trời, thấy rõ ràng. Như thấy người từ
một phòng đi ra lại vào một phòng, bỏ thân này đến thân sau cũng như
vậy. Nếu mắt thịt thấy được cần gì cầu mắt trời? Nếu như vậy mắt trời,
mắt thịt, thánh, phàm không khác nhau. Ông dùng cái thấy đồng nhau từ
nhiều đời súc tích, làm sao có thể thấy đời sau?
Có thể biết được là như người chết rồi sanh, tuy không có đến có đi,
nhưng vì phiền não chưa hết, nên tình ý tương tục nơi thân, lại sanh tình
ý nơi thân khác, tình ý nơi thân khác lại tạo nghiệp, cũng chẳng đi đến
đời sau, nhưng do nhân duyên tạo nghiệp ấy lại sanh ra, chịu quả báo
đời sau, ví như sữa có độc, sữa biến thành kem, kem biến thành phô-mát,
sữa chẳng phải kem, phô-mát; kem, phô-mát chẳng phải sữa. Sữa và
kem tuy biến khác mà đều có độc. Thân này cũng như vậy năm uẩn đời
nay làm nhân duyên lại sanh hạnh nghiệp cho năm uẩn đời sau, tương
tục không khác mà chịu quả báo.
Lại như cây mùa đông, tuy chưa có hoa lá quả trái, được thời tiết thì
thứ lớp sanh ra. Do các nhân duyên như vậy nên biết có sanh tử.
Lại nữa, hiện đời có người biết kiếp trước, như người mộng thấy đi,
nằm ngủ rất mệt, thức dậy nhớ lại lý do việc đã trải qua.
Lại tất cả kinh sách trong ngoài của thánh nhân đều nói đến đời
sau.
Lại nữa, pháp bất thiện hiện tại, động phát quá nặng, sanh sân
nhuế, tật đố, nghi ngờ hối hận bức não bên trong, thân thì khô héo,
nhan sắc không vui. Pháp ác bất thiện, thọ hại như vậy, huống gì khởi
thân nghiệp khẩu nghiệp? Nếu sanh pháp thiện, tịnh tín nghiệp nhân
duyên, tâm thanh tịnh, được trí tuệ như thật, thì tâm vui vẻ, thân được
nhẹ nhàng, nhan sắc hòa vui.
Vì có nhân duyên khổ vui nên có thiện bất thiện, hiện đời nhất
định có thiện bất thiện, nên biết chắc chắn có đời sau. Chỉ vì chúng sanh
mắt thịt không thấy, trí tuệ mỏng nên sanh tà nghi, nên tuy có tu phước
sư, mà làm việc nông cạn, ví như thầy thuốc vì chữa bệnh cho vua, vua
ngầm cho làm nhà trả ân mà thầy thuốc không biết, khi đi về trông thấy,
mới hối hận sao không gia tâm tận lực chữa trị cho vua.
Lại nữa, thánh nhân nói vì việc đời hiện tại thật đáng tin, nên việc
đời sau cũng đều đáng tin, như người đi đêm qua đường hiểm, đạo sư
đưa tay dắt, biết đó đáng tin nên liền đi theo. Lấy trí so sánh và theo lời
thánh nhân có thể biết nhất định có đời sau. Ông vì mắt thịt trọng tội,
trí so sánh kém nông cạn, lại không có mắt trời. Tự đã không có trí, lại
không tin lời thánh, làm sao biết được đời sau.
Lại nữa, trong Phật pháp thì các pháp rốt ráo không, mà cũng chẳng
đoạn diệt; sanh tử tuy tiếp nối, cũng không hẳn là thường; nghiệp nhân
duyên trong vô lượng vô số kiếp tuy đã qua đi mà cũng phát sanh quả
báo, không diệt, đó là điều vi diệu khó biết. Nếu các pháp hoàn toàn
không, thì trong phẩm này chẳng nên nói có sự sanh qua đời khác. Đâu
có người trí, lại nói trước sau trái nhau.
Nếu tướng chết sông thật có, cớ sao nói các pháp rốt ráo không? Chỉ
vì trừ tà kiến điên đảo ưa đắm đối với các pháp, nên nói rốt ráo không,
chứ không phải vì phủ nhận đời sau mà nói. Ông không có mắt trời nên
nghi đời sau, muôn tự vùi lấp vào trong tội ác. Vì ngăn ngừa nhân duyên
tội nghiệp ấy, nên nói các việc sanh qua đời khác.
Phật pháp không chấp có, không chấp không, không chấp cũng có
cũng không, không chấp chẳng phải có chẳng phải không, không chấp
THÍCH KINH LUẬN 2
cũng không chấp, người như vậy thì không thể nạn hỏi, ví như lấy đao
chặt hưkhông, trọn không bị thương. Vì chúng sanh nên tùy duyên thuyết
pháp, tự mình không chấp trước. Vì vậy trong Trung luận nói:
Hết thảy các pháp thật,
Hết thảy pháp hư vọng,
Các pháp thật cũng hư,
Phi thật cũng phỉ hư
Niết-bàn tế là chân.
Thế gian tế cũng chân.
Niết-bàn đời không khác.
Chút khác chẳng thể được.
Ây là tướng rốt ráo không. Rốt ráo không không ngăn ngại nghiệp
nhân duyên sanh tử, thế nên nói sanh qua đời khác.
Hỏi: Nếu Bát-nhã Ba-la-mật nhất tướng, đó là vô tướng, thì làm
sao cùng Bát-nhã tương ưng; từ một nước Phật sanh đến một nước Phật,
thường gặp chư Phật?
Đáp: Bát-nhã Ba-la-mật thu nhiếp hết thảy pháp, ví như biển lớn,
vì vậy không nên nạn hỏi.
Lại nữa, ông tự nói Bát-nhã ba-la mật nhất tướng vô tướng. Nếu vô
tướng làm sao có nạn hỏi? Ông thì trong vô tướng chấp thủ tướng; như
vậy là không đúng.
Lại nữa, nhân Bát-nhã Ba-la-mật nên thật hành các thiện pháp, như
Niệm Phật tam-muội... sanh ra được gặp chư Phật.
Lại nữa, người thực hành Bát-nhã Ba-la-mật, vào sâu tâm đại bi,
như cha lành thấy con vì không được của mà chết, cha rất thương đứa
con ấy chỉ vì hư dối mà chết. Chư Phật cũng như vậy, biết các pháp là rốt
ráo không, không thể có được, nhưng chúng sanh không biết, vì chúng
sanh không biết nên nhiễm đắm nơi pháp không, do nhiễm đắm nên đọa
đại địa ngục, thế nên sâu vào tâm đại bi, do tâm đại bi nên được vô lượng
phước đức, do được vô lượng phước đức nên sanh ra được gặp chư Phật,
từ một nước Phật sanh đến một nước Phật.
Bồ-tát ấy chết ở đây sanh ở kia, chết ở kia lại sanh ở đây, như vậy
cho đến được thành Phật, trọn không rời Phật, ví như người đại phước, từ
một hội lớn đi đến một hội lớn. Hoặc có người chết ở đây sanh ở kia, ở
nơi kia dùng lực năm thần thông từ một nước Phật đi đến một nước Phật,
cúng dường chư Phật, độ thoát chúng sanh; ấy là vị Bồ-tát đầu.
Nước Phật: Hằng hà sa ba ngàn đại thiên thế giới trong mười phương
ấy gọi là Phật độ. Thần lực chư Phật tuy biến khắp tự tại vô ngại, nhưng
chúng sanh được độ có hạn cuộc.
Chư Phật hiện tại: Phật hiện tại ở Phật quốc độ kia.
Bồ-tát thứ hai không phương tiện vào Sơ thiền cho đến hành sáu
Ba-la-mật. Không phương tiện là khi vào Sơ thiền không nhớ chúng
sanh, khi trú thiền, khi ra khỏi thiền cũng không nhớ chúng sanh, chỉ
đắm thiền vị, không thể cùng Sơ thiền hòa hợp thực hành Bát-nhã Ba-
la-mật, Bồ-tát ấy tâm từ bi mỏng, cho nên công đức mỏng ít, công đức
mỏng ít nên bị quả báo Sơ thiền lôi kéo sanh vào cõi trời sống lâu.
Lại nữa, không đem phước đức Sơ thiền cùng với chúng sanh hồi
hướng đến Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Như vậy có vô lượng
nghĩa về chữ không phương tiện.
Trời sống lâu là trời Phi hữu tưởng Phi vô tưởng xứ; sống tám vạn
đại kiếp.
Hoặc có người nói hết thảy định Vô sắc đều chung tên là trời sống
lâu. Vì vô hình không thể biến hóa, không thể đắc đạo, thường là chỗ
phàm phu.
Hoặc nói trời Vô tưởng là trời sông lâu, cũng không thể đắc đạo.
Hoặc nói từ Sơ thiền đến Tứ thiền, trừ trời Tịnh cư, đều gọi là trời
sống lâu, vì đắm say tà kiến, không thể lãnh thọ đạo pháp.
Trở lại sanh vào cõi người được gặp Phật, vì do trước có phát tâm
cầu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác; hoặc do ở nơi thiền nhóm các
công đức. Vì sao? Vì đắm say trong thiền, nên thiện tâm khó phát, như
trong Kinh, Phật hỏi các Tỳ-kheo: “Đất trên đầu móng tay nhiều hay
đất giữa đại địa nhiều?” Các Tỳ-kheo thưa: “Đất giữa đại địa rất nhiều
không thể ví dụ được”. Phật dạy: “Ớ trên trời mệnh chung, kẻ sanh trở
lại cõi người như đất trên đầu móng tay, còn kẻ đọa địa ngục như đất
giữa đại địa”.
Hỏi: Độn căn là căn nào trong hai mươi hai căn?
Đáp: Có người nói tuệ căn hay quán các pháp, song vì đắm trước
thiền vị nên trì độn.
Có người nói năm căn tín... đều giúp thành đạo pháp, song vì chịu
báo đắm trước thiền vị nên độn.
Có người nói Bồ-tát do phước đức trí tuệ thanh tịnh nên mười tám
căn đều lanh lợi, do tội nghiệp nên trì độn. Sáu căn mắt... như trong kinh
pháp Hoa nói, mạng căn không bị già, bệnh, nghèo cùng bức não, an ổn
thọ lạc, ấy là mạng căn lanh lợi. Năm căn lạc, khổ... giác tri rõ ràng cho
THÍCH KINH LUẬN 2
nên nói là lanh lợi.
Lại nữa, khi thọ vui, biết có các lỗi vô thường theo đuổi cái vui, mà
không sanh tham dục, nên lanh lợi. Các thọ khổ, ưu cũng như vậy.
Tín căn kiên cố sâu bền, tin được việc khó, nên nói là lanh lợi. Các
tấn... cũng như vậy. Năm căn thanh tịnh được tướng âm tàng, không đắm
trước xúc chạm, trơn mịn, biết dục là tội lỗi, ấy là lợi căn.
Lại nữa, ba thiện căn lợi nên gọi là lợi. Bồ-tát có khi đối với ba vô
lậu căn không chứng thật tế nên lợi, trái với lợi là độn căn.
Hỏi: Bồ-tát thứ ba nếu có thể xả thiền, tại sao nói không phương
tiện?
Đáp: Bồ-tát ấy lúc mệnh chung vào tâm bất thiện, xả các phương
tiện thiền định. Bồ-tát nếu vào thiện tâm hệ thuộc cõi Dục. Hoặc tâm
vô ký mà xả các thiền vào tâm từ bi; thương xót chúng sanh, khởi niệm
rằng: Ta nếu ta sanh theo thiền định, thì không thể rộng lợi ích chúng
sanh.
Sanh đến cõi Dục có mười chỗ là người ở bốn châu thiên hạ và sáu
trời cõi Dục, ba ác đạo, Bồ-tát không sanh ở đó.
Căn độn là như nói ở Bồ-tát thứ hai. Bồ-tát thứ tư nhập vị được Bồ-
tát đạo, tu Ba mươi bảy phẩm, trú Mười tám không, cho đến đại từ đại
bi, ấy gọi là phương tiện.
Hai Bồ-tát đầu chỉ có thiền định, tu hành thẳng sáu Ba-la-mật, vì
vậy nên không phương tiện.
Bồ-tát thứ tư do sức phương tiện nên không sanh theo thiền định,
vô lượng tâm. Vì sao? Vì thực hành bốn niệm xứ cho đến đại từ đại bi,
nên khi mệnh chung, thương xót chúng sanh, nguyện sanh đến nước Phật
hiện tại ở phương khác để tiếp tục cùng Bát-nhã Ba-la-mật tương ưng.
Vì sao? Vì ưa vui tùy thuận Bát-nhã Ba-la-mật.
Hỏi: Ấy là Bồ-tát nào?
Đáp: Phật tự nói Bồ-tát trong kiếp Bạt-đà, hoặc Bồ-tát chẳng phải
trong kiếp Bạt-đà, đây chỉ lấy vị Bồ-tát lớn.
Hỏi: Sao gọi Bạt-đà, sao gọi kiếp?
Đáp: Như Kinh nói, có một Tỳ-kheo hỏi Phật: “Bạch đức Thế Tôn!
Bao nhiêu gọi là kiếp?” Phật bảo Tỳ-kheo: “Tuy Ta nói được nhưng ông
không biết được. Ta sẽ ví dụ cho ông hiểu. Như có một thành vuông vức
trăm do tuần chứa đầy hạt cải, có người sống lâu cứ qua trăm năm, lấy
đi một hạt cải, hạt cải sạch hết, mà kiếp vẫn không hết. Lại như hòn đá
vuông vức trăm do tuần, có người cứ trăm năm, cầm chiếc áo lụa Ca-thi
nhẹ mền đến quét qua một lần, đá mòn hết, kiếp số vẫn không hết. Thời
gian tối thiểu là một niệm trong mười sáu niệm (một sát-na có mười sáu
niệm - N D) thời gian tối đại gọi là kiếp.
Kiếp có hai: 1. Đại kiếp. 2. Tiểu kiếp. Đại kiếp như trên ví dụ.
Lúc kiếp sắp hết, chúng sanh tự nhiên tâm ưa xa lìa. Vì ưa xa lìa
nên trừ được năm triền cái, vào Sơ thiền, người ấy lìa dục sanh hỷ lạc. Từ
đó khởi đầu cất tiếng xướng lớn rằng: “Này các chúng sanh! Rất đáng
ghét là năm dục, an ổn đệ nhất là Sơ thiền”. Chúng sanh nghe tiếng
xướng ấy rồi, tất cả chúng sanh tâm đều tự nhiên xa lìa năm dục mà vào
Sơ thiền. Tự nhiên diệt giác quán mà vào đệ Nhị thiền; cũng xướng lên
như vậy. Hoặc lìa Nhị thiền mà vào đệ Tam thiền cũng như vậy. Chúng
sanh trong ba đường ác tự nhiên được thiện tâm, mệnh chung đều sanh
vào cõi người, nếu trọng tội thì sanh vào địa ngục ở tha phương, như
trong phẩm Nê-lê nói.
Khi ấy trong ba ngàn đại thiên thế giới không một chúng sanh nào
còn. Bấy giờ hai mặt trời xuất hiện cho đến bảy mặt trời xuất hiện, quả
đất ba ngàn đại thiên thế giới đều cháy tiêu hết. Như trong chương Mười
tám không đã nói rõ tướng trạng của kiếp sanh kiếp diệt.
Lại có người nói, trong bốn đại, ba đại có động tác nên có ba loại
kiếp: hoặc kiếp lửa (thời gian lửa cháy) nổi lên đốt cháy ba ngàn đại
thiên thế giới cho đến Sơ thiền bôn trú xứ; hoặc khi kiếp nước nổi lên,
trôi sạch ba ngàn đại thiên thế giới, cho đến Nhị thiền tám trú xứ, hoặc
khi kiếp gió nổi lên thổi sạch ba ngàn đại thiên thế giới, cho đến Tam
thiền, mười hai trú xứ, ấy gọi là đại kiếp.
Tiểu kiếp cũng có ba loại: ba đại bên ngoài phát sanh thì thế giới
diệt, ba độc bên trong phát sanh thì chúng sanh diệt, đó là đói khát, đao
binh, tật dịch.
Lại có người nói: số thời tiết năm tháng gọi là tiểu kiếp, như trong
kinh Pháp Hoa nói: Lúc Xá-lợi-phất làm Phật, chánh pháp trụ hai mươi
tiểu kiếp, tượng pháp trụ hai mươi tiểu kiếp. Phật từ tam-muội khởi dậy
nói kinh Pháp Hoa trong sáu mươi tiểu kiếp. Các tiểu kiếp hợp lại gọi
là đại kiếp.
Kiếp-ba (Kalpa) Trung Hoa dịch là phân biệt thời tiết, Bạt-đà dịch
là Thiện, có ngàn vạn kiếp quá khứ trông không không có Phật. Trong
một kiếp ấy sẽ có ngàn Phật ra đời, các trời Tịnh cư hoan hỷ, nên gọi
kiếp ấy là thiện kiếp.
Trời Tịnh cư sao biết kiếp ấy sẽ có ngàn Phật? Kiếp trước hết rồi,
THÍCH KINH LUẬN 2
rỗng không hoàn toàn, sau đó có nước lớn, từ đáy nước vọt lên hoa sen
bảy báu sáng suốt ngàn cánh, ấy là đến tướng ngàn Phật. Các trời Tịnh
cư nhân đó biết có ngàn Phật.
Vì vậy nói Bồ-tát ấy trong kiếp này được Vô thượng Chánh đẳng
Chánh giác.
KINH: Này Xá-lợi-phất! Có Bồ-tát ma-ha-tát vào Sơ thiền cho đến
đệ Tứ thiền, vào Từ tâm cho đến xả tâm, vào Không xứ cho đến Phi hữu
tưởng phi vô tưởng xứ, dùng sức phương tiện, không sanh theo thiền, mà
trở lại sanh vào cõi Dục trong dòng Sát-lợi, dòng Bà-la-môn, đại gia cư
sĩ, để thành tựu chúng sanh.
LUẬN: Hỏi: Bồ-tát có hai hạng: 1. Tùy nghiệp sanh. 2. Được pháp
tánh thân. Vì độ chúng sanh, biến hóa thân sanh vào ba cõi, đủ công đức
Phật, độ thoát chúng sanh. Vậy nay là thân nào trong hai thân ấy?
Đáp: Bồ-tát ấy do nghiệp nhân duyên sanh thân. Vì sao? Vì do sức
phương tiện vào các thiền, không sanh theo thiền, còn pháp thân Bồ-tát
biến hóa tự tại, thì không cần phương tiện lắm. Nghĩa phương tiện vào
thiền, như trước nói.
Hỏi: Nếu không theo thiền định cớ sao sanh vào cõi Dục, mà không
sanh vào thế giới thanh tịnh ở tha phương?
Đáp: Hạnh các Bồ-tát mỗi mỗi không đồng, hoặc có Bồ-tát ở nơi
thiền chuyển tâm, sanh vào nước Phật ở tha phương, có Bồ-tát hồi tâm
sanh vào cõi Dục cũng như vậy.
Hỏi: Sanh vào nước Phật ở tha phương ấy là cõi Dục hay chẳng cõi
Dục?
Đáp: Nước Phật ở tha phương nếu tạp ác bất tịnh, thì ấy là cõi Dục,
nếu thanh tịnh không ba ác đạo, ba độc, cho đến không có tên ba độc,
cũng không có tên Nhị thừa, cũng không có nữ nhân; tất cả người đều
có ba mươi hai tướng, ánh sáng vô lượng thường chiếu thế gian, trong
khoảnh khắc một niệm, biến ra vô lượng thân, đi đến vô lượng hằng sa
thế giới, độ vô lượng vô số chúng sanh, rồi trở lại chỗ cũ. Các thế giới
như vậy ở trên đất, nên không gọi là cõi sắc, vì không có dục nên không
gọi là cõi Dục, vì có hình sắc nên không gọi là cõi Vô sắc. Các Bồ-tát
ma-ha-tát do nghiệp phước đức thanh tịnh nên riêng được thế giới thanh
tịnh ra ngoài ba cõi. Hoặc có vị đem tâm đại từ đại bi thương xót chúng
sanh, nên sanh vào cõi Dục này.
Hỏi: Nếu khi mệnh chung, bỏ thiền định này, lúc đầu cớ sao cầu
học?
Đáp: Tâm cõi Dục cuồng loạn, bất định, nhờ vì nhu nhuyễn nhiếp
tâm nên vào thiền, khi mệnh chung, vì độ chúng sanh nên khởi tâm cõi
Dục.
Hỏi: Nếu sanh vào cõi người, cớ gì sanh đúng vào dòng Sát-lợi mà
không sanh chỗ khác?
Đáp: Sanh dòng Sát-lợi có thế lực, sanh dòng Bà-la-môn có trí tuệ,
sanh vào đại gia cư sĩ giàu có, nên có thể làm lợi ích cho chúng sanh,
sanh vào nhà bần cùng tự lợi còn không được, làm sao ích người. Sanh
trời cõi Dục, tiếp sẽ nói.
KINH: Này Xá-lợi-phất! Lại có Bồ-tát ma-ha-tát, vào Sơ thiền cho
đến đệ Tứ thiền, vào Từ tâm cho đến xả tâm, vào Không xứ cho đến
Phi hữu tưởng phi vô tưởng xứ, do sức phương tiện nên không sanh theo
thiền, mà hoặc sanh cõi trời Tứ thiên vương, hoặc sanh cõi trời Ba mươi
ba, trời Dạ-ma, trời Đâu-suất-đà, trời Hóa-lạc, trời Tha-hóa-tự-tại. ở nơi
trong ấy thành tựu chúng sanh, cũng thanh tịnh Phật độ, thường gặp chư
Phật.
LUẬN: Nghĩa này đồng với trên, chi sanh cõi trời là khác.
Hỏi: Các trời cõi Dục, tình đắm năm dục, khó có thể hóa độ, sao
Bồ-tát sanh đến đó mà không sanh cõi người?
Đáp: Các trời tâm đắm trước tuy lớn, mà sức phương tiện của Bồ-tát
cũng lớn. Như nói trên cõi trời Ba mươi ba có rừng cây Tu-phù-ma, trời
thánh trong các trời, chán bỏ năm dục, trú ở trong đó, hóa độ các trời.
Trên cõi trời Đâu-suất thường có một Bồ-tát một đời bổ xứ, các Bồ-tát
thường được nghe pháp. Lực sĩ Mật-tích Kim cang, cũng ở trên trời Tứ
thiên vương. Như vậy để giáo hóa chư thiên.
KINH: Lại nữa, Xá-lợi-phất! Có Bồ-tát ma-ha-tát hành Bát-nhã
Ba-la-mật, do sức phương tiện nên vào Sơ thiền, ở đây mạng chung sanh
chỗ Phạm thiên, làm vua trời Đại Phạm. Từ chỗ Phạm thiên, đi đến một
nước Phật rồi đến một nước Phật, ở chỗ có Phật chứng được Vô thượng
Chánh đẳng Chánh giác mà chưa Chuyển pháp luân, thì khuyến thỉnh
chuyển.
LUẬN: Hỏi: Nếu sanh theo Sơ thiền, có phương tiện gì?
Đáp: Tuy sanh mà không đắm hương vị Sơ thiền, thường niệm Phật
đạo, nhớ bển nguyện, vào tâm từ, Niệm Phật tam-muội, hòa hợp với
thiền, nên gọi là phương tiện.
Hỏi: Cớ sao làm Phạm vương?
Đáp: Bồ-tát do nhân duyên nhóm phước đức lớn, đời đời thường
THÍCH KINH LUẬN 2
làm chủ loài vật, cho đến sanh trong loài nai cũng làm vua.
Lại nữa, bổn nguyện của Bồ-tát ấy là muôn thỉnh Phật Chuyển
pháp luân, không phải làm Tán thiên. Hoặc có khi trong ba ngàn đại
thiên thế giới này không có Phật, thì từ một nước Phật đi đến một nước
Phật, tìm cầu vị Phật mới thành mà chưa Chuyển pháp luân để khuyến
thỉnh. Vì sao? Vì pháp của vua Phạm thiên là thường nên khuyến thỉnh
chư Phật Chuyển pháp luân như vậy.
KINH: Này Xá-lợi-phất! Có Bồ-tát ma-ha-tát một đời bể xứ, hành
Bát-nhã Ba-la-mật, do sức phương tiện nên vào Sơ thiền, cho đến đệ Tứ
thiền, vào Từ tâm cho đến xả tâm, vào Không xứ cho đến Phi hữu tưởng
phi vô tưởng xứ, tu Bốn niệm xứ cho đến Tám thánh đạo, vào Không
tam-muội, Vô tướng, Vô tác tam-muội, không sanh theo thiền, mà sanh
chỗ có Phật, tu phạm hạnh, nếu sanh trên cõi trời Đâu-suất, tùy khi mệnh
chung, đầy đủ thiện căn, không mất chánh niệm; với vô sô" trăm ngàn
vạn ức chư thiên cung kính vây quanh, sanh đến trong đây, chứng được
Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
LUẬN: Hỏi: Vị Bồ-tát một đời bổ xứ, ở địa vị thập trụ, đã đầy đủ
các công đức, sao nay còn tu tập các hạnh?
Đáp: Tâm chưa vào Niết-bàn, cần phải có tu hành. Đó là tu bốn
thiền cho đến ba tam-muội.
Lại nữa, Bồ-tát ấy tuy ở trong cõi trời cõi người thị hiện làm theo
phép người, tu hành cầu đạo.
Lại nữa, Bồ-tát ấy ở địa vị thập trụ, vẫn còn có phiền não tập khí.
Lại đối các pháp còn có điều không biết, thế nên tu hành.
Lại nữa, Bồ-tát ấy tuy hành hạnh sâu, còn chưa thủ chứng ba mươi
bảy đạo phẩm, ba môn giải thoát, nay vì thủ chứng nên lại tu hành các
hạnh.
Lại nữa, tuy là Đại Bồ-tát nhưng đối với Phật còn nhỏ, thí như đống
lửa lớn tuy có chiếu soi mà đối với mặt trời thì không hiện. Như trong
kinh Phóng bát, Bồ-tát Di-lặc nói với Văn-thù-sư-lợi: Như tôi thân sau
lại làm Phật, Văn-thù-sư-lợi số như hằng hà sa còn không biết việc tôi
cất chân để chân, vì vậy nên tuy ở địa vị thập trụ, còn phải tu hành.
Hỏi: Bồ-tát một đời bổ xứ cớ sao không rộng độ chúng sanh, mà cần
phải sanh ở trước đức Phật?
Đáp: Bồ-tát độ sanh đã nhiều, nay sắp gần thành Phật, nên ở trước
Phật. Vì sao? Vì chẳng phải chỉ độ chúng sanh, được thành Phật, mà các
pháp thâm diệu của chư Phật cũng phải nên nghe hiểu.
Hỏi: Nếu vì hỏi việc Phật nên ở trước Phật, cớ sao đức Thích-ca
Văn Phật khi làm Bồ-tát ở trước Phật Ca-diếp mà ác khẩu hủy báng?
Đáp: Việc ấy trước đã nói rồi, là pháp thân Bồ-tát biến hóa các thân
để độ chúng sanh. Hoặc có khi làm theo phép của người có đủ thứ đói
khát, lạnh nóng, già bệnh, ghét yêu, giận mừng, tán thán, quở mắng...
trừ các trọng tội, mọi việc khác đều làm.
Bồ-tát Thích-ca văn ấy bấy giờ làm em Phật Ca-diếp, tên là uất-
đa-la, anh trí tuệ thuần thục, không ưa nói nhiều, em trí tuệ chưa đủ nên
ưa luận nghị nhiều. Người thời ấy cho em là hơn; về sau anh xuất gia,
đắc thành Phật đạo, hiệu là Ca-diếp. Em làm thầy vua cõi Diêm-phù-đề
tên Ngật-lê-cơ. Có năm trăm đệ tử thường lấy sách Bà-la-môn dạy cho
các Bà-la-môn. vì các Bà-la-môn không ưa Phật pháp. Bấy giờ có thợ
gốm tên Nan-đà Bà-la là đệ tử năm giới của Phật Ca-diếp, chứng đắc
đạo quả thứ ba A-na-hàm cùng với thầy vua là uất-đa-la, làm bạn lành,
vì uất-đa-la có tâm thiện, lòng tin thanh tịnh.
Bấy giờ uất-đa-la cỡi xe vàng, bốn ngựa trắng kéo, cùng đệ tử đi
ra cửa thành, Nan-đề Bà-la gặp ở giữa đường, uất-đa-la hỏi từ đâu đi
đến. Đáp rằng: anh ông chứng đắc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác,
tôi cúng dường xong trở về, ông có thể cùng đi với tôi đến yết kiến Phật,
cho nên tôi đến đón ông đi.
uất-đa-la suy nghĩ rằng, nếu ta đi thẳng đến chỗ Phật, thì các đệ
tử ta sẽ lấy làm lạ mà sanh nghi rằng: Ông vốn có trí tuệ luận nghị hơn
người, nay đi đến cúng dường, hẳn là vì thương yêu thân thuộc, chắc
chúng nó không theo ta nữa, Vì sợ phá nhân duyên thấy Phật của chúng
nó, nên trú trong trí biết thật tướng các pháp, vào tuệ phương tiện vô
thượng, để độ chúng đệ tử, nên miệng xuất lời ác rằng: Ông trọc đầu ấy
(chỉ anh là Phật Ca-diếp) làm sao có thể đắc đạo Bồ-đề!
Bấy giờ bạn lành Na-đề-bà-la làm ra vẻ giận dữ, nắm đầu uất-đa-
la kéo đi và nói: Ông không được dừng lại!
uất-đa-la nói với các đệ tử, việc đã như vậy, ta không thể dừng lại
mà không đi được!
Tức thời thầy trò cùng đi đến chỗ Phật. Thấy Phật tướng tốt, tâm
liền thanh tịnh, trước đảnh lễ chân Phật, rồi ngồi qua một bên. Phật
theo ý thuyết pháp cho. uất-đa-la được vô lượng môn Đà-la-ni, mở các
cửa tam-muội, năm trăm đệ tử trở lại phát tâm Vô thượng Chánh đẳng
Chánh giác.
uất-đa-la từ chỗ ngồi đứng dậy bạch Phật rằng: “Xin Phật cho tôi
THÍCH KINH LUẬN 2
xuất gia làm Tỳ-kheo”. Phật dạy: “Thiện lai”, liền thành Sa-môn.
Do phương tiện ấy, xuất ra lời ác, chẳng phải thật ác. Hư không có
thể phá, nước có thể làm thành lửa, lửa có thể làm thành nước, Bồ-tát đối
với người phàm còn không nổi giận huống gì đối với Phật.
Hỏi: Nếu như vậy, sao Phật còn chịu tội báo thứ tám là khổ hạnh
sáu năm?
Đáp: Pháp Tiểu thừa khác với pháp Đại thừa. Nếu không khác thì
không nên có đại tiểu. Trong pháp Tiểu thừa không nói đến pháp thân
Bồ-tát với pháp bí áo vi diệu, vô lượng thần lực bất khả tư nghi, mà phần
nhiều nói về việc dứt kiết sử đi thẳng chứng Niết-bàn.
Lại nữa, nếu Phật không thọ tội báo thứ tám ấy, sẽ có chư thiên,
thần tiên, rồng, quỷ, những kẻ sống lâu, thấy có ác nghiệp mà không thọ
tội báo, thì cho là không có nhân duyên nghiệp báo. Vì vậy, tuy hiện tại
không có ác nghiệp cũng thọ tội báo.
Lại có nhân duyên đời nay là các ngoại đạo đều tin tưởng khổ hạnh,
nếu Phật không sáu năm khổ hạnh, thì người ta không tin, nói rằng người
con vua ấy quen vui, không thể khổ hạnh được. Vì vậy Phật sáu năm
khổ hạnh, có kẻ theo ngoại đạo khổ hạnh ba tháng, nửa năm, một năm,
không ai có thể sáu năm ngày ăn một hạt mè hạt gạo. Các ngoại đạo cho
đó là khổ hạnh cùng cực, người ấy nếu vô đạo, thật vô đạo vậy. Bấy giờ
họ mới tín thọ, đều vào chính đạo.
Do hai nhân duyên ấy, tu khổ hạnh sáu năm, chứ chẳng phải thật
tội. Vì sao? Vì hết thảy chư Phật dứt hết tất cả điều bất thiện, thành tựu
tất cả thiện pháp. Phật nếu thật thọ tội báo, thì không được nói thành tựu
tất cả thiện pháp, dứt tất cả pháp bất thiện.
Lại nữa, trong pháp Tiểu thừa, Phật vì chúng sanh tiểu tâm nên nói
Bồ-tát một đời bổ xứ, ác khẩu mắng Phật, chứ thật Bồ-tát một đời bể xứ
còn không mắng trẻ con làm sao thật mắng Phật. Đều là phương tiện vì
chúng sanh. Sao biết? Phật Thích-ca Văn ấy, trong thời đức Phật Tỳ-bà-
thi, Ngài làm vị đại Bà-la-môn thấy Phật chúng Tăng ăn mau mà phát
lời nói rằng: “Bọn người như vậy, nên ăn lúa ngựa”. Do tội ấy bị đọa địa
ngục Hắc-thằng chịu khổ vô lượng đời rồi, vì nhân duyên của tội dư thừa
ấy, tuy nay thành Phật đạo, còn phải ba tháng ăn lúa ngựa.
Lại trong pháp Thanh văn nói: “Phật qua khỏi ba vô số kiếp, thường
làm nam tử, thường sanh chỗ quí, thường không mất các căn, thường biết
kiếp trước, không đọa ba ác đạo, từ đức Tỳ-bà-thi trở lại chín mươi mốt
kiếp”.
Như pháp ông đó, trong chín mươi mốt kiếp, Phật không phải đọa
ác đạo, huống gì trong một kiếp cuối cùng. Vì vậy nên biết Phật chẳng
phải thọ báo thật, vì phương tiện nên nói vậy thôi.
Hỏi: Phật hai tội, nói ở trong Tỳ-ni và Tạp tạng, là có thể tin thọ.
Trong một trăm kiếp tiếp sau ba vô số kiếp, không đọa ác đạo, thì từ vô
số kiếp đầu cũng không nên đọa ác đạo. Nếu không đọa, cớ sao chỉ nói
trong một trăm kiếp Phật không nói lời ấy, đó chỉ là luận nghị sư của A-
tỳ-đàm Tỳ-bà-sa (Abhi-dharma-vibhasa) nói?
Đáp: A-tỳ-đàm là Phật nói: Thanh văn các ông theo A-tỳ-đàm mà
luận nghị, ấy gọi là Tỳ-bà-sa, không nên lầm lẫn!
Lại như Bạc-câu-lô đem một quả Ha-lê-lặc thí cho Tăng, mà trong
chín mươi mốt kiếp không đọa ác đạo, huống gì Bồ-tát vô lượng đời lại
đây đem thân bố thí, tu các công đức, mà vì nhân duyên tội nhỏ phải đọa
địa ngục! Việc như vậy, Tỳ-bà-sa không nên lầm. Vì vậy, người Tiểu
thừa không biết Bồ-tát phương tiện.
Lại nữa, cho phép Tỳ-bà-sa các ông không lầm, Phật tự nói chỗ
bôn khởi của Bồ-tát: Lúc Bồ-tát mới sanh, đi bảy bước, miệng tự nói Ta
sanh ra vì độ chúng sanh, nói rồi, im lặng. Bú mớm ba năm, không đi,
không nói, lần lữa khôn lớn, đi, nói như người thường. Tất cả hài nhi lúc
nhỏ chưa thể đi, nói, dần dần khôn lớn, mới đầy đủ vóc người, nay cớ
sao Bồ-tát mới sanh, đi được, nói được, sau đó bèn không? Nên biết đó
là phương tiện. Nếu nhận đó là phương tiện thì hết thảy Phật ngữ đều
thông, nếu không nhận thì một thật một hư!
Do các nhân duyên như vậy, biết Phật vì độ chúng sanh nên thị hiện
ác khẩu.
Hỏi: Sao Bồ-tát một đời bổ xứ, chỉ sanh ở cõi trời Đâu-suất mà
không sanh chỗ khác?
Đáp: Nếu ở thế giới tha phương đến, các trời sống lâu; rồng, quỷ,
thần tìm chỗ Ngài từ đâu đến không biết được thì sanh nghi cho là người
huyễn hóa. Nếu ở trong loài người chết sanh lại trong loài người, vậy
sau làm Phật, thì người tâm sanh khinh mạn, còn trời thì không tin. Theo
phép, trời nên đến giáo hóa người, không nên người giáo hóa trời. Thế
nên từ trên trời sanh đến, là từ trời làm người, thì người kính tin.
Trong cõi Vô sắc, vô hình không thể thuyết pháp, nên không sanh
ở trong đó.
Trong cõi sắc tuy có sắc thân, có thể vì người thuyết pháp, song vì
đắm sâu thiền vị, không thể lợi ích lớn cho chúng sanh, cho nên không
THÍCH KINH LUẬN 2
sanh ở trong đó.
Ba tầng trời cõi Dục dưới hết, kiết sử sâu dày, tâm thô tạp loạn, hai
tầng trời cõi Dục trên, kiết sử đã mỏng, tâm quen không lợi; còn trên trời
Đâu-suất, kiết sử mỏng, tâm lanh lợi, thường là nơi ở của Bồ-tát; ví như
thái tử sắp lên ngôi vua, trước ở nhà tĩnh lặng, bảy ngày trai tịnh. Vậy
sau lên chánh điện thọ lãnh ngôi vua. Bồ-tát bể xứ cũng như vậy, trên
trời Đâu-suất như nhà trai tịnh, ở đó cuối cùng thọ hưởng vui trời, mệnh
chung sanh xuống, cuối cùng thọ hưởng vui người, bèn thành Chánh
giác. Có vô lượng chư thiên vây quanh Bồ-tát sanh đến trong đây, vì
Bồ-tát trước từ trong vô thỉ sanh tử thường qua lại cõi trời cõi người, nay
là thân trời cuối cùng không còn trở lại cõi trời nữa, vì thế chư thiên đều
hầu đưa đi.
Bồ-tát mệnh chung ở Đâu-suất, sẽ sanh xuống cõi người làm Phật,
chư thiên mệnh chung, chưa mệnh chung, đều nguyện sanh xuống cõi
người làm đàn- việt của Bồ-tát.
Lại nữa, chư thiên sanh xuống muốn thường hộ vệ Bồ-tát, vì có
trăm ức ma oán sợ đến não hại Bồ-tát. Bồ-tát này sanh trong cõi người
rồi chán già, bệnh, chết, xuất gia chứng đắc Vô thượng Chánh đẳng
Chánh giác, như nói trong kinh Bồ-tát bổn khởi.
KINH: Lại nữa, Xá-lợi-phất! Có Bồ-tát ma-ha-tát được sáu thần
thông, không sanh cõi Dục, cõi sắc, cõi Vô sắc, mà từ một nước Phật đến
một nước Phật, cúng dường cung kính, tôn trọng, tán thán chư Phật.
Này Xá-lợi-phất! Có Bồ-tát ma-ha-tát được thần thông du hý, từ
một nước Phật đến một nước Phật, chỗ đi đến không có Thanh văn, Bích-
chi Phật thừa, cho đến không có danh từ Nhị thừa.
Này Xá-lợi-phất! Có Bồ-tát ma-ha-tát được thần thông du hý, từ
một nước Phật đến một nước Phật, chỗ đi đến, sống lâu vô lượng.
Này Xá-lợi-phất! Có Bồ-tát ma-ha-tát được thần thông du hý, từ
một quốc độ đến một quốc độ, chỗ đi đến, có nơi không có Phật Pháp
Tăng, thì tán thán công đức Phật Pháp Tăng, các chúng sanh nghe được
danh từ Phật Pháp Tăng, mệnh chung ở nơi đó, được sanh đến trước
Phật.
LUẬN: Bồ-tátcó hai: 1. Sanh thân Bồ-tát. 2. Pháp thân Bồ-tát. Một
dứt kiết sử, một không dứt kiết sử. Pháp thân Bồ-tát dứt kiết sử, được sáu
thần thông, sanh thân Bồ-tát không dứt kiết sử, được năm thần thông. Vị
được sáu thần thông thì không sanh vào ba cõi, dạo đi các thế giới, cúng
dường mười phương chư Phật. Vị được thần thông du hý thì đến mười
phương thế giới độ chúng sanh, mưa bảy báu; ở thế giới đi đến, đều là
nhất thừa thanh tịnh, sống lâu vô lượng vô số kiếp.
Hỏi: Phép của Bồ-tát là phải độ chúng sanh, cớ sao chỉ đi đến thế
giới thanh tịnh, sống lâu vô lượng?
Đáp: Bồ-tát có hai hạng: 1. Có tâm từ bi, phần nhiều vì chúng sanh.
2. Phần nhiều nhóm các công đức chư Phật. Người ưa nhóm nhiều công
đức chư Phật thì đến thế giới nhất thừa thanh tịnh sống lâu vô lượng.
Người ưa vì chúng sanh nhiều thì đến chỗ không có Phật Pháp Tăng. Tán
thán danh Tam bảo, như chương sau sẽ nói.
KINH: Này Xá-lợi-phất! Có Bồ-tát ma-ha-tát lúc mới phát tâm,
được Sơ thiền cho đến đệ Tứ thiền, được Bốn tâm vô lượng, được Bôn
định vô sắc, tu Bốn niệm xứ cho đến Mười tám pháp không chung, vị
Bồ-tát ấy không sanh trong cõi Dục, cõi sắc, cõi Vô sắc mà thường sanh
đến chỗ có lợi ích cho chúng sanh.
LUẬN: Vị Bồ-tát ấy hoặc sanh ở thế giới không có Phật, hoặc sanh
ở thế giới có Phật, hoặc sanh vào thế giới bất tịnh có ba ác đạo, bần cùng
hạ liệt, hoặc sanh thế giới thanh tịnh.
Sanh đến thế giới không có Phật, thì lấy Mười thiện đạo, Bốn thiền,
cho đến Bốn định vô sắc, làm lợi ích chúng sanh, khiến tín hướng Tam
bảo, tuyên nói năm giới và giới xuất gia, khiến được Thiền định, Trí tuệ
công đức.
Thế giới không thanh tịnh có hai: có Phật hiện tại và sau Phật diệt
độ. Sau Phật diệt độ, hoặc có khi xuất gia, hoặc có khi tại gia, đem tài thí
pháp thí làm lợi ích chúng sanh. Nếu Phật đang tại thế thì tạo các nhân
duyên dẫn đạo chúng sanh khiến đến chỗ Phật.
Ớ thế giới thanh tịnh mà chúng sanh chưa đủ công đức thì làm cho
họ đầy đủ. Ây gọi là chỗ sanh đến làm lợi ích chúng sanh.
KINH: Này Xá-lợi-phất! Có Bồ-tát ma-ha-tát lúc mới phát tâm,
hành sáu Ba-la-mật, lên địa vị Bồ-tát, được bất thối chuyển.
Này Xá-lợi-phất! Có Bồ-tát ma-ha-tát lúc mới phát tâm, liền được
Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác liền chuyển pháp luân, làm lợi ích
thâm hậu cho vô lượng vô số chúng sanh xong, vào Vô dưNiết-bàn. Sau
khi Phật ấy Niết-bàn, Chánh pháp lưu lại hoặc một kiếp hoặc non một
kiếp.
Này Xá-lợi-phất! Có Bồ-tát ma-ha-tát lúc mới phát tâm, cùng Bát-
nhã Ba-la-mật tương ưng, cùng với vô số trăm ngàn ức Bồ-tát từ một
nước Phật đến một nước Phật, làm thanh tịnh Phật độ.
THÍCH KINH LUẬN 2
LUẬN: Có ba hạng Bồ-tát căn lợi tâm bền. Khi chưa phát tâm đã từ
lâu nhóm vô lượng phước đức trí tuệ, người ấy gặp Phật nghe pháp Đại
thừa, phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, tức thời thật hành
Sáu Ba-la-mật, vào Bồ-tát vị được bất thối chuyển. Vì sao? Vì trước
nhóm vô lượng phước đức, căn lợi tâm bền, theo Phật nghe pháp. Ví
như đi xa, có người cỡi dê, có người cỡi ngựa, có người dùng thần thông.
Người cỡi dê thật lâu mới đến, người cỡi ngựa hơi mau hơn, người cỡi
thần thông móng ý liền đến, như vậy không được nói trong lúc phát tâm
làm sao đến được. Tướng trạng thần thông là như vậy, không nên sanh
nghi. Bồ-tát cũng như vậy, khi phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh
giác, liền vào Bồ-tát vị.
Có Bồ-tát mới phát tâm, tâm ban đầu tuy tốt, về sau xen các niệm
ác, thường thường khởi niệm: Ta cầu Phật đạo, đem các công đức hồi
hướng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, người ấy thật lâu vô lượng
vô sô" kiếp hoặc đến hoặc không đến, vì nhân duyên phước đức đời trước
mỏng, mà lại độn căn, tâm không bền chắc, như người cỡi dê.
Có người đời trước có chút ít phước đức lợi căn, phát tâm dần dần
thật hành sáu Ba-la-mật, trải qua hoặc ba hoặc mười hoặc trăm vô số
kiếp, chứng được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, như người cỡi
ngựa chắc đi đến được.
Hạng thứ ba người cỡi thần thông thì như trên vừa nói.
Ba hạng phát tâm ấy là:
1. Tội nhiều phước ít.
2. Phước nhiều tội ít
3. Chỉ thật hành phước đức thanh tịnh.
Thanh tịnh có hai: 1. Lúc mới phát tâm liền được Bồ-tát đạo 2. Sau
thời gian ngắn, cúng dường mười phương chư Phật, thông đạt Bồ-tát đạo,
vào Bồ-tát vị, tức là địa vị bất thối. Nghĩa Bồ-tát bất thối như trên đã
nói. 3. Hạng Bồ-tát phát tâm thứ hai, Bồ-tát tiếp sau, rất chán thế gian,
đời đời lại đây thường ưa chân thật, ghét giả dối, Bồ-tát này cũng căn lợi
tâm bền, lâu ngày nhóm vô lượng phước đức trí tuệ, khi mới phát tâm
liền được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác; liền chuyển pháp luân, độ
vô lượng chúng sanh, vào Vô dưNiết-bàn, chánh pháp trụ thế hoặc một
kiếp, hoặc non một kiếp, lưu lại hóa Phật để độ chúng sanh.
Phật có hai lực thần thông:
1. Lúc còn ở đời.
2. Sau khi diệt độ.
Nghĩa chữ kiếp như trên đã nói. Chúng sanh được độ trong một kiếp
cũng không ít.
Hạng Bồ-tát phát tâm thứ ba, cũng căn lợi tâm bền, lâu ngày nhóm
phước đức, phát tâm liền cùng Bát-nhã Ba-la-mật tương ưng, được Sáu
thần thông, cùng vô lượng chúng sanh xem mười phương thế giới thanh
tịnh mà tự trang nghiêm quốc độ mình, như Phật A-đi-đà, đời trước lúc
làm Tỳ-kheo Pháp-tạng, được Phật dẫn đến khắp mười phương, chỉ cho
thấy cõi nước thanh tịnh, khiến chọn cõi nước thanh tịnh để tự trang ng¬
hiêm nước mình.
THÍCH KINH LUẬN 2
LUẬN ĐẠI TRÍ ĐỘ

Nguồn bản dịch: Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh (Internet Archive OCR)Giấy phép: Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh (Việt dịch) · OCR Internet Archive · nguồn: archive.org · EN quarantined by Codex on 2026-07-06: previous bodyEn was short INTI-AI quote-widget noise, not a source English body. · EN: AI translation by Codex from Vietnamese source, awaiting source English🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này →

Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch do AI (Inti Sage) thực hiện: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.

🕯️ Thắp nến