Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh quyển 77
Tên chữ Hán:大方廣佛華嚴經
Lưu tiến độ đọc kinh
Tạo tài khoản miễn phí để lưu bài kinh, đánh dấu tiến độ và tiếp tục lộ trình học mỗi ngày.
KINH ĐẠI PHƯƠNG QUẢNG PHẬT
HOA NGHIÊM
QUYỂN 77
Phẩm 39: NHẬP PHÁP GIỚI (Phần 18)
Bấy giờ, Đồng tử Thiện Tài đi dần đến thành Diệu ý hoa môn, gặp Đồng tử Đức Sinh và Đồng nữ Hữu Đức, đảnh lễ nơi chân hai vị, đi quanh theo phía bên phải nhiều vòng xong, đứng trước chắp tay, bạch:
-Thánh giả! Tôi đã phát tâm Vô thượng Bồ-đề, nhưng chưa biết Bồ-tát làm thế nào học hạnh Bồ-tát, làm thế nào tu đạo Bồ-tát?
Xin Thánh giả thương xót chỉ dạy!
Đức Sinh và Hữu Đức nói:
-Này thiện nam! Chúng tôi chứng được môn giải thoát của Bồ-tát tên là Huyễn trụ.
Vì được môn giải thoát này nên thấy tất cả thế giới đều tồn tại như huyễn, vì do nhân duyên mà sinh khởi.
Tất cả chúng sinh đều tồn tại như huyễn, vì do nghiệp phiền não mà sinh khởi.
Tất cả chúng sinh đều tồn tại như huyễn, vì do nghiệp phiền não mà sinh khởi.
Tất cả thế gian đều tồn tại như huyễn, vì do vô minh, hữu, ái xoay vần làm duyên sinh khởi.
Tất cả pháp đều tồn tại như huyễn, vì do những huyễn duyên như ngã kiến sinh khởi.
Tất cả ba đời đều tồn tại như huyễn, vì do những Trí điên đảo như ngã kiến sinh khởi.
Tất cả chúng sinh sinh, diệt, lão, bệnh, tử, ưu bi, khổ não, đều
tồn tại như huyễn, vì do phân biệt hư vọng sinh khởi.
Tất cả cõi nước đều tồn tại như huyễn, vì do tưởng đảo, tâm đảo, kiến đảo và vô minh hiện khởi.
Tất cả Thanh văn và Bích-chi-phật đều tồn tại như huyễn, vì do trí đoạn phân biệt mà thành.
Tất cả Bồ-tát đều tồn tại như huyễn, vì do những hạnh nguyện có thể tự điều phục và giáo hóa chúng sinh mà thành.
Tất cả chỗ nêu bày về điều phục, biến hóa của chúng hội Bồ-tát đều tồn tại như huyễn, vì do nguyện trí huyễn mà thành.
Này thiện nam! Tự tánh của cảnh giới huyễn là chẳng thể nghĩ bàn.
Chúng tôi chỉ biết môn giải thoát huyễn trụ này. Còn như chư Đại Bồ-tát khéo nhập nơi vô biên lưới huyễn của các sự việc, thì chúng tôi làm thế nào biết được, nói được hạnh công đức đó.
Đồng tử và đồng nữ giảng nói môn giải thoát của mình đã chứng đắc xong, dùng diệu lực của thiện căn chẳng thể nghĩ bàn làm cho thân tâm của Đồng tử Thiện Tài trở nên hòa dịu uyển chuyển, rồi nói:
-Này thiện nam! Phương Nam của xứ này có nước Hải ngạn, ở đấy có khu vườn tên Đại trang nghiêm, trong vườn có một tòa lầu gác rộng lớn tên là Tỳ-lô-giá-na trang nghiêm tạng.
Lầu gác này có được là do quả báo từ thiện căn của Bồ-tát, do lực niệm, lực nguyện, lực tự tại, lực thần thông của Bồ-tát sinh, do phương tiện thiện xảo của Bồ-tát sinh, do phước đức trí tuệ của Bồ-tát sinh.
Này thiện nam! Bồ-tát trụ nơi môn giải thoát chẳng thể nghĩ bàn, dùng tâm đại Bi, vì các chúng sinh mà hiện bày cảnh giới như vậy, tích tập những trang nghiêm như vậy.
Đại Bồ-tát Di-lặc ở trong lầu gác ấy nhằm để thâu nhận phụ mẫu, quyến thuộc và muôn dân nơi mình sinh ra, làm cho họ được thành thục. Lại muốn cho những chúng sinh đồng thọ sinh, đồng tu hành ở trong pháp Đại thừa được kiên cố. Lại muốn cho tất cả chúng sinh ấy tùy chỗ trụ, tùy nơi thiện căn thảy đều được thành tựu.
Lại cũng muốn vì ông mà hiển thị môn giải thoát của Bồ-tát,
hiển thị Bồ-tát hiện hữu khắp tất cả chỗ thọ sinh tự tại, hiển thị Bồ-tát dùng vô số các thứ thân, hiện khắp trước tất cả chúng sinh để luôn giáo hóa họ, hiển thị Bồ-tát dùng sức đại Bi thâu tóm tất cả tài sản của thế gian mà không nhàm chán, hiển thị Bồ-tát tu đủ tất cả các hạnh, biết rõ tất cả hạnh, lìa các tướng, hiển thị Bồ-tát thọ sinh khắp nơi vì biết rõ tất cả sự sinh đều là vô tướng.
Ông nên đến đó hỏi Bồ-tát làm thế nào thực hành hạnh Bồ-tát, làm thế nào tu đạo Bồ-tát, làm thế nào học giới Bồ-tát, làm thế nào làm thanh tịnh tâm Bồ-tát, làm thế nào để phát nguyện Bồ-tát,
làm thế nào để chứa nhóm trợ đạo Bồ-tát, làm thế nào để nhập các địa của Bồ-tát, làm thế nào thành tựu đầy đủ các pháp Ba-la-mật của Bồ-tát, làm thế nào được Vô sinh nhẫn của Bồ-tát, làm thế nào để đạt đủ pháp công đức của Bồ-tát, làm thế nào hành trì phụng sự Thiện tri thức của Bồ-tát?
Này thiện nam! Bồ-tát Di-lặc thông đạt tất cả hạnh Bồ-tát, biết rõ tâm của chúng sinh, thường hiện thân trước họ để giáo hóa điều phục.
Bồ-tát Di-lặc đã thành tựu viên mãn tất cả Ba-la-mật, đã trụ nơi tất cả địa của Bồ-tát, đã chứng tất cả các pháp nhẫn của Bồ-tát, đã nhập tất cả phần vị của Bồ-tát, đã được Phật thọ ký đầy đủ, đã du hành nơi tất cả cảnh giới của Bồ-tát, đã được thần lực của tất cả Phật, đã được Đức Như Lai đem nước pháp cam lộ của Nhất thiết trí rưới lên đỉnh đầu.
Này thiện nam! Bồ-tát Di-lặc có thể làm cho các thiện căn của ông được thấm nhuần, có thể làm tăng trưởng tâm Bồ-đề của ông, có thể làm kiên cố chí nguyện của ông, có thể thêm pháp lành cho ông, có thể làm lớn căn tánh Bồ-tát của ông, có thể chỉ bày pháp vô ngại cho ông, có thể làm cho ông vào bậc Phổ Hiền, có thể giảng nói về nguyện của Bồ-tát cho ông, có thể giảng nói về hạnh Phổ Hiền cho ông, có thể vì ông mà giảng nói tất cả hạnh nguyện làm thành công đức của Bồ-tát.
Này thiện nam! Ông chẳng nên tu một điều lành, chiếu soi một pháp, hành trì một hạnh, phát khởi một nguyện, được một thọ ký, trụ nơi một nhẫn mà cho là rốt ráo.
Ông chớ nên đem tâm có hạn lượng mà thực hành sáu Độ, trụ nơi mười Địa, làm thanh tịnh cõi Phật phụng thờ Thiện tri thức. Vì sao? Này thiện nam!
Vì Đại Bồ-tát phải gieo trồng vô lượng thiện căn, phải chứa vô lượng vật dụng của Bồ-đề, phải tu vô lượng nhân Bồ-đề, phải học vô lượng thiện xảo hồi hướng, phải giáo hóa vô lượng cõi chúng sinh, phải biết vô lượng tâm của chúng sinh, phải biết vô lượng căn của chúng sinh, phải rõ vô lượng sự hiểu biết của chúng sinh, phải quán vô lượng hạnh của chúng sinh, phải điều phục vô lượng chúng sinh, phải đoạn vô lượng phiền não, phải làm thanh tịnh vô lượng nghiệp tập, phải diệt vô lượng tà kiến, phải trừ vô lượng tâm tạp nhiễm, phải phát khởi vô lượng tâm thanh tịnh, phải nhổ vô lượng mũi tên độc, khổ, phải làm cạn vô lượng biển ái dục, phải phá trừ vô lượng bóng tối vô minh, phải xô dẹp vô lượng núi ngã mạn, phải làm đứt vô lượng dây sinh tử, phải qua khỏi vô lượng dòng hữu lậu,
phải làm khô vô lượng biển thọ sinh, phải làm cho vô lượng chúng sinh ra khỏi bùn lầy năm dục, phải khiến cho vô lượng chúng sinh lìa ngục tù ba cõi, phải đặt vô lượng chúng sinh ở trong Thánh đạo, phải tiêu diệt vô lượng hành tham dục, phải trừ sạch vô lượng hành sân hận, phải phá trừ vô lượng hành ngu si, phải vượt qua vô lượng lưới ma, phải lìa vô lượng nghiệp ma, phải rửa sạch vô lượng dục lạc của Bồ-tát, phải tăng trưởng vô lượng phương tiện của Bồ-tát, phải xuất sinh vô lượng căn tăng thượng của Bồ-tát, phải làm sáng sạch vô lượng hiểu biết quyết định của Bồ-tát, phải hướng nhập vô lượng bình đẳng của Bồ-tát, phải làm thanh tịnh vô lượng công đức của Bồ-tát, phải tu tập vô lượng công hạnh của Bồ-tát, phải thị hiện vô lượng hạnh tùy thuận thế gian của Bồ-tát,
phải sinh vô lượng sức tin tịnh, phải trụ nơi vô lượng sức tinh tấn, phải thanh tịnh vô lượng sức chánh niệm, phải làm thành tựu đầy đủ vô lượng sức Tam-muội, phải khởi vô lượng sức tuệ tịnh, phải làm kiên cố vô lượng sức thắng giải, phải tích tập vô lượng sức phước đức, phải làm lớn vô lượng sức trí tuệ, phải phát khởi vô lượng sức Bồ-tát, phải làm viên mãn vô lượng diệu lực của Như Lai, phải phân biệt vô lượng pháp môn, phải biết rõ vô lượng pháp môn, phải làm thanh tịnh vô lượng pháp môn, phải sinh khởi vô lượng pháp ánh sáng, phải làm vô
lượng pháp chiếu diệu, phải chiếu vô lượng phẩm loại căn, phải biết vô lượng bệnh phiền não, phải chứa vô lượng thuốc pháp diệu, phải chữa vô lượng bệnh của chúng sinh, phải sắm sửa vô lượng phẩm vật cúng cam lộ, phải đi đến vô lượng cõi Phật, phải cúng dường vô lượng Như Lai, phải vào vô lượng hội của Bồ-tát, phải thọ vô lượng lời Phật dạy, phải nhẫn vô lượng tội của chúng sinh, phải diệt vô lượng nạn đường ác, phải khiến vô lượng chúng sinh sinh về đường lành, phải dùng bốn Nhiếp pháp để thâu tóm vô lượng chúng sinh, phải tu vô lượng môn Tổng trì, phải sinh vô lượng môn đại nguyện, phải tu vô lượng sức đại Từ đại nguyện, phải siêng cầu vô lượng Phật pháp thường không ngừng nghỉ, phải khởi vô lượng sức tư duy, phải khởi vô lượng sự thần thông, phải làm thanh tịnh vô lượng trí quang minh,
phải qua đến vô lượng cõi chúng sinh, phải thọ sinh nơi vô lượng các loài, phải hiện vô lượng thân sai biệt, phải biết vô lượng pháp ngôn từ, phải nhập vô lượng tâm sai biệt, phải biết cảnh giới lớn của Bồ-tát, phải trụ nơi cung điện lớn của Bồ-tát, phải quán pháp diệu sâu xa của Bồ-tát, phải biết cảnh giới khó biết của Bồ-tát, phải thực hành những hạnh khó làm của Bồ-tát, phải đầy đủ oai đức tôn trọng của Bồ-tát, phải đi theo chánh vị khó nhập của Bồ-tát, phải biết đủ những hạnh của Bồ-tát, phải hiện thần lực phổ biến của Bồ-tát, phải thọ mây pháp bình đẳng của Bồ-tát, phải làm rộng vô biên hạnh của Bồ-tát, phải làm viên mãn vô biên các pháp Ba-la-mật của Bồ-tát, phải thọ vô lượng ký biệt của Bồ-tát, phải nhập vô lượng môn nhẫn của Bồ-tát, phải tu vô lượng địa của Bồ-tát,
phải làm thanh tịnh vô lượng pháp môn của Bồ-tát, phải đồng với chư Bồ-tát, an trụ vô biên kiếp, cúng dường vô lượng Phật, làm nghiêm tịnh vô số cõi Phật, xuất sinh vô số nguyện của Bồ-tát.
Này thiện nam! Tóm lại, phải tu khắp tất cả hạnh của Bồ-tát, phải giáo hóa khắp tất cả cõi của chúng sinh, phải vào khắp tất cả kiếp, phải sinh khắp tất cả xứ, phải biết khắp tất cả đời, phải thực hành khắp tất cả pháp, phải làm thanh tịnh khắp tất cả cõi, phải làm viên mãn khắp tất cả nguyện, phải cúng dường khắp tất cả Phật, phải đồng nguyện khắp tất cả Bồ-tát, phải phụng sự khắp tất cả Thiện tri thức.
Này thiện nam! Ông cầu Thiện tri thức chẳng nên mệt mỏi. Ông thỉnh hỏi Thiện tri thức chớ sợ khổ nhọc.
Ông gần gũi Thiện tri thức chớ có thoái chuyển. Ông cúng dường Thiện tri thức chẳng nên ngừng nghỉ. Ông lãnh thọ lời dạy của Thiện tri thức chẳng nên lầm lộn.
Ông học hạnh của Thiện tri thức chẳng nên nghi hoặc. Ông nghe Thiện tri thức diễn nói môn xuất ly chẳng nên do dự. Thấy Thiện tri thức hành theo phiền não chớ cho là lạ.
Ở chỗ của Thiện tri thức phải sinh tâm thâm tín tôn kính chẳng nên biến đổi. Vì sao? Này thiện nam!
Vì Bồ-tát do nơi Thiện tri thức mà được nghe tất cả hạnh Bồ-tát, thành tựu tất cả công đức của Bồ-tát, xuất sinh tất cả đại nguyện của Bồ-tát, dẫn phát tất cả thiện căn của Bồ-tát, tích tập tất cả trợ đạo của Bồ-tát, khai phát tất cả pháp ánh sáng của Bồ-tát, hiển bày tất cả môn xuất ly của Bồ-tát, tu học tất cả giới thanh tịnh của Bồ-tát, an trụ tất cả pháp công đức của Bồ-tát, làm thanh tịnh tất cả chí nguyện rộng lớn của Bồ-tát, tăng trưởng tất cả tâm kiên cố của Bồ-tát, đầy đủ tất cả môn Đà-la-ni, biện tài của Bồ-tát, được tất cả tạng thanh tịnh của Bồ-tát, sinh tất cả ánh sáng định của Bồ-tát, được tất cả nguyện thù thắng của Bồ-tát, cùng tất cả Bồ-tát đồng một nguyện, nghe tất cả pháp thù thắng của Bồ-tát, được tất cả điều bí mật của Bồ-tát, đến tất cả đảo báu của pháp Bồ-tát,
thêm tất cả mầm thiện căn của Bồ-tát, làm lớn tất cả thân trí tuệ của Bồ-tát, hộ trì tất cả tạng thâm mật của Bồ-tát, giữ vững tất cả nhóm phước đức của Bồ-tát, tịnh tất cả đạo thọ sinh của Bồ-tát, thọ tất cả mây chánh pháp của Bồ-tát, nhập tất cả đường đại nguyện của Bồ-tát, đến tất cả quả Bồ-đề của Như Lai, thâu giữ tất cả hạnh diệu của Bồ-tát, khai thị tất cả công đức của Bồ-tát, đến tất cả phương nghe thọ pháp diệu, khen tất cả oai đức rộng lớn của Bồ-tát, sinh tất cả sức đại Từ bi của Bồ-tát, thâu tóm tất cả sức thù thắng tự tại của Bồ-tát, sinh tất cả Bồ-đề phần của Bồ-tát, làm tất cả việc lợi ích của Bồ-tát.
Này thiện nam! Bồ-tát do Thiện tri thức giữ gìn nên chẳng đọa vào đường ác, do Thiện tri thức thâu nhận mà chẳng thoái chuyển nơi Đại thừa, do Thiện tri thức hộ niệm mà chẳng phạm giới Bồ-tát, do Thiện tri thức gìn giữ mà chẳng theo ác tri thức, do
Thiện tri thức dưỡng dục mà chẳng làm khuyết giảm pháp Bồ-tát, do Thiện tri thức thâu giữ mà siêu việt hạng phàm phu, do Thiện tri thức chỉ dạy mà siêu việt bậc Nhị thừa, do Thiện tri thức dìu dắt mà được ra khỏi thế gian, do Thiện tri thức trưởng dưỡng mà có thể chẳng nhiễm thế pháp, do phụng sự Thiện tri thức mà tu tất cả hạnh Bồ-tát, do cúng dường Thiện tri thức mà đủ tất cả pháp trợ đạo, do thân cận Thiện tri thức mà chẳng bị nghiệp hoặc thâu phục, do nương tựa Thiện tri thức mà uy lực kiên cố chẳng sợ chúng ma, do chỗ nương tựa Thiện tri thức mà tăng trưởng tất cả pháp Bồ-đề phần.
Vì sao? Này thiện nam! vì Thiện tri thức có thể trừ sạch các chướng ngại, có thể diệt các tội, có thể dứt các nạn, có thể ngăn các ác, có thể phá đêm dài tối tăm vô minh, có thể làm sập đổ lao ngục kiên cố kiến chấp, có thể thoát khỏi thành sinh tử, có thể bỏ nhà thế tục, có thể cắt lưới ma, có thể nhổ tên khổ, có thể lìa chỗ hiểm nạn vô trí, có thể ra khỏi đồng hoang rộng lớn tà kiến, có thể qua khỏi dòng các hữu, có thể lìa những tà đạo, có thể chỉ đường Bồ-đề, có thể dạy pháp Bồ-tát, có thể khiến an trụ nơi hạnh Bồ-tát, có thể khiến hướng đến Nhất thiết trí, có thể làm thanh tịnh mắt trí tuệ, có thể làm lớn tâm Bồ-đề, có thể sinh tâm đại bi, có thể diễn nêu diệu hạnh, có thể nói Ba-la-mật, có thể bỏ ác tri thức, có thể khiến trụ nơi các địa, có thể khiến được các nhẫn,
có thể khiến tu tập các thiện căn, có thể khiến hoàn thành đầy đủ tất cả đạo, có thể thí cho tất cả công đức lớn, có thể khiến đạt đến ngôi vị Nhất thiết chủng trí, có thể khiến hoan hỷ nhóm tập công đức, có thể khiến vui vẻ tu các công hạnh, có thể khiến hướng vào nghĩa sâu xa, có thể khiến khai thị môn xuất ly, có thể khiến trừ tuyệt các đường ác, có thể dùng pháp sáng để chiếu soi rõ, có thể dùng mưa pháp làm thấm nhuận, có thể khiến tiêu diệt tất cả phiền não, có thể khiến lìa bỏ tất cả kiến chấp, có thể khiến tăng trưởng tất cả trí tuệ của Phật, có thể khiến an trụ tất cả pháp môn của Phật.
Này thiện nam! Thiện tri thức như từ mẫu, vì xuất sinh Phật chủng, như từ phụ vì đem lại lợi ích rộng lớn; như nhũ mẫu, vì bảo vệ chẳng cho làm ác; như giáo sư, vì chỉ dạy mọi kiến văn của Bồ-tát; như Đạo sư, vì có thể chỉ đường Ba-la-mật; như lương y, vì hay
chữa trị các bệnh phiền não; như núi Tuyết, vì tăng trưởng thuốc Nhất thiết trí; như dũng tướng, vì dẹp trừ tất cả sự sợ hãi; như người đưa đò, vì làm cho ra khỏi dòng chảy sinh tử; như người lái thuyền, vì khiến đến đảo báu trí tuệ.
Này thiện nam! Thường phải chánh niệm suy nghĩ về các Thiện tri thức như vậy.
Lại, này thiện nam! Ông phụng sự tất cả Thiện tri thức phải phát tâm như đại địa, vì gánh vác nhiệm vụ nặng nề không mỏi nhọc; phải phát tâm như kim cang, vì chí nguyện kiên cố chẳng hư hoại; phải phát tâm như núi Thiết vi, vì tất cả các sự khổ không thể lay động; phải phát tâm như người hầu hạ, vì đều tùy thuận theo lời dạy; phải phát tâm như đệ tử, vì không chống trái lời dạy bảo; phải phát tâm như tôi tớ, vì không nhàm chán tất cả việc làm cực nhọc; phải phát tâm như dưỡng mẫu, vì nhận chịu những sự khổ nhọc không biết chán, phải phát tâm như người làm thuê, vì không làm trái việc sai bảo; phải phát tâm như người hốt phân, vì lìa bỏ mọi kiêu mạn; phải phát tâm như cây lúa đã chín, vì có thể cúi thấp; phải phát tâm như ngựa hiền, vì lìa tánh ác;
phải phát tâm như cỗ xe lớn, vì có thể chở nặng; phải phát tâm như voi thuần, vì luôn biết phục tùng; phải phát tâm như núi Tu-di, vì chẳng khuynh động; phải phát tâm như chó hiền, vì chẳng hề hại chủ; phải phát tâm như chiên-đồ-la, vì lìa xa những thứ kiêu mạn; phải phát tâm như trâu hiền, vì không hung giận; phải phát tâm như ghe thuyền, vì qua lại chẳng mỏi; phải phát tâm như cầu đò, vì tế độ không biết mệt nhọc; phải phát tâm như hiếu tử, vì thuận theo cha mẹ; phải phát tâm như vương tử, vì tuân hành giáo mạng.
Lại, này thiện nam! Đối với tự thân, ông phải tưởng là bệnh khổ. Đối với Thiện tri thức, ông phải tưởng là y vương. Đối với pháp của Thiện tri thức dạy, ông phải tưởng là lương dược. Đối với chỗ tu hành, phải tưởng là dứt trừ được bệnh.
Lại, đối với tự thân, phải tưởng là đi xa. Đối với Thiện tri thức, tưởng là Đạo sư. Đối với pháp của Thiện tri thức dạy, tưởng là con đường chánh. Đối với chỗ tu hành, tưởng là đến được chỗ xa.
Lại, đối với tự thân, sinh tưởng cầu được đi qua. Đối với Thiện
tri thức, tưởng là người lái thuyền. Đối với pháp của Thiện tri thức dạy, tưởng là thuyền là chèo. Đối với chỗ tu hành, tưởng là đến bờ kia.
Lại, đối với tự thân, tưởng là lúa mạ. Đối với Thiện tri thức, tưởng là Long vương. Đối với pháp của Thiện tri thức dạy, tưởng là mưa đúng thời tiết. Đối với chỗ tu hành, tưởng là thành thục. Lại, đối với tự thân, sinh tưởng là nghèo cùng. Đối với Thiện tri thức, tưởng là Thiên vương Tỳ-sa-môn. Đối với pháp của Thiện tri thức dạy, tưởng là của cải châu báu. Đối với chỗ tu hành, tưởng là giàu có.
Lại, đối với tự thân, tưởng là đệ tử. Đối với Thiện tri thức, tưởng là thợ khéo. Đối với pháp của Thiện tri thức dạy, tưởng là nghề khéo. Đối với chỗ tu hành, tưởng là biết rõ.
Lại, đối với tự thân, tưởng là chỗ đáng sợ hãi. Đối với Thiện tri thức, tưởng là người tráng kiện. Đối với pháp của Thiện tri thức dạy, tưởng là đao gậy. Đối với chỗ tu hành, tưởng là dẹp trừ được kẻ oán địch.
Lại, đối với tự thân, tưởng là người đi buôn. Đối với Thiện tri thức, tưởng là Đạo sư. Đối với pháp của Thiện tri thức dạy, tưởng là châu báu. Đối với chỗ tu hành, tưởng là lượm châu báu.
Lại đối với tự thân, tưởng là con cái. Đối với Thiện tri thức, tưởng là cha mẹ. Đối với pháp của Thiện tri thức dạy, tưởng là gia nghiệp. Đối với chỗ tu hành, tưởng là nối nghiệp nhà.
Lại đối với tự thân, tưởng là Vương tử. Đối với Thiện tri thức, tưởng là đại thần. Đối với pháp của Thiện tri thức dạy, tưởng là lệnh của vua. Đối với chỗ tu hành, tưởng là đội mão vua, mặc áo vua, cột đai vua, ngồi điện vua.
Này thiện nam! Ông phải phát tâm như vậy, suy nghĩ như vậy để gần Thiện tri thức. Vì sao? Vì có tâm như vậy để gần Thiện tri thức thì chí nguyện trọn được thanh tịnh.
Lại nữa này thiện nam! Thiện tri thức làm lớn các thiện căn, như núi Tuyết sinh trưởng các dược thảo.
Thiện tri thức là pháp khí của Phật, như biển lớn thọ nhận các dòng nước.
Thiện tri thức là nơi chốn của công đức, như biển lớn xuất sinh các châu báu.
Thiện tri thức làm thanh tịnh tâm Bồ-đề, như lửa mạnh có thể luyện chân kim.
Thiện tri thức vượt hơn thế pháp, như núi Tu-di vọt lên khỏi mặt biển lớn.
Thiện tri thức chẳng nhiễm đắm nơi thế pháp, như hoa sen chẳng dính nước.
Thiện tri thức chẳng thọ các điều ác, như biển lớn chẳng chứa tử thi.
Thiện tri thức tăng trưởng các pháp lành, như trăng tròn ánh sáng viên mãn.
Thiện tri thức soi sáng pháp giới, như mặt trời chiếu khắp thế gian.
Thiện tri thức làm lớn thân Bồ-tát, như cha mẹ nuôi nấng con cái.
Này thiện nam! Tóm lại, Đại Bồ-tát nếu có thể tùy thuận lời dạy của Thiện tri thức, thì được mười vô số trăm ngàn ức triệu công đức, thì làm thanh tịnh mười vô số trăm ngàn ức triệu tâm sâu xa, thì làm lớn mười vô số trăm ngàn ức triệu căn của Bồ-tát, thì làm thanh tịnh mười vô số trăm ngàn ức triệu lực của Bồ-tát, thì dứt mười vô số trăm ngàn ức vô số chướng, thì siêu vượt mười vô số trăm ngàn ức vô số cảnh ma, thì nhập mười vô số trăm ngàn ức vô số pháp môn, thì viên mãn mười vô số trăm ngàn ức vô số trợ đạo, thì tu mười vô số trăm ngàn ức vô số diệu hạnh, thì phát mười vô số trăm ngàn ức vô số đại nguyện.
Này thiện nam! Ta lại lược nói về tất cả hạnh của Bồ-tát, tất cả pháp Ba-la-mật của Bồ-tát, tất cả địa của Bồ-tát, tất cả nhẫn của Bồ-tát, tất cả môn Tổng trì của Bồ-tát, tất cả môn Tam-muội của Bồ-tát, tất cả trí thần thông của Bồ-tát, tất cả hồi hướng của Bồ-tát, tất cả nguyện của Bồ-tát. Tất cả Bồ-tát thành tựu về Phật pháp, đều do sức của Thiện tri thức, đều dùng Thiện tri thức làm căn bản, đều nương nơi Thiện tri thức mà sinh, đều nương nơi Thiện tri thức mà ra, đều nương vào Thiện tri thức mà lớn, đều nương theo Thiện tri thức
mà trụ, đều do Thiện tri thức làm nhân duyên, đều do Thiện tri thức hay phát khởi.
Bấy giờ, Đồng tử Thiện Tài nghe Thiện tri thức có công đức như vậy, có thể khai thị vô lượng vô lượng hạnh diệu Bồ-tát, có thể thành tựu vô lượng Phật pháp vó đại, nên vô cùng vui mừng cảm kích, bèn đảnh lễ Đức Sinh và Hữu Đức, đi quanh vô số vòng, ân cần chiêm ngưỡng, rồi từ tạ ra đi.
Thiện Tài được nghe lời của Thiện tri thức chỉ dạy, thấm nhuần tâm ý, chánh niệm tư duy về công hạnh của Bồ-tát, hướng đến nước Hải Ngạn, tự nhớ về đời trước chẳng tu hạnh lễ kính, tức thì phát tâm cố gắng tiến bước. Lại nhớ về đời trước thân tâm chẳng thanh tịnh, tức thì phát tâm chuyên tự tu sửa trong sạch. Lại nhớ về đời trước tạo những nghiệp ác, tức thì phát ý chuyên tự phòng ngừa và trừ diệt.
Lại nhớ về đời trước khởi những vọng tưởng, tức thì phát ý hằng suy gẫm chân chánh. Lại nhớ về đời trước tu tập chỉ vì tự thân, tức thì phát ý khiến tâm rộng lớn tạo lợi ích khắp chúng sinh. Lại nhớ về đời trước theo cầu cảnh dục thường tự tổn hao không chút lợi ích, tức thì phát ý tu hành Phật pháp, nuôi lớn các căn để tự an ổn.
Lại nhớ về đời trước khởi niệm tà tương ưng với điên đảo, tức thì phát ý sinh tâm chánh kiến, khởi nguyện Bồ-tát. Lại nhớ về đời trước ngày đêm phí sức làm những việc ác, tức thì phát ý khởi đại tinh tấn thành tựu Phật pháp. Lại nhớ về đời trước thọ sinh nơi năm đường, thân mình, thân người đều không lợi ích, tức thì phát ý nguyện đem thân mình làm lợi ích cho chúng sinh, thành tựu Phật pháp, phụng sự tất cả Thiện tri thức.
Suy nghĩ như vậy nên tâm rất hoan hỷ.
Thiện Tài lại quán thân này là nhà của các khổ sinh lão bệnh tử. Nguyện tận kiếp vị lai tu đạo Bồ-tát, giáo hóa chúng sinh, gặp chư Như Lai thành tựu Phật pháp, du hành tất cả cõi Phật, phụng sự tất cả Pháp sư, giữ gìn tất cả lời của Phật dạy, tìm cầu tất cả bạn pháp, thấy tất cả Thiện tri thức, chứa nhóm tất cả những Phật pháp, làm nhân duyên cho tất cả thân nguyện trí của Bồ-tát. Lúc nghĩ như vậy, Thiện Tài được thêm lớn vô lượng thiện căn, liền đối với tất cả Bồ-tát hết sức tin tưởng, tôn trọng, sinh tưởng hy hữu, sinh tưởng đại sư, các căn thanh tịnh, pháp lành càng tăng, khởi tâm cung kính cúng
dường tất cả Bồ-tát, tạo mọi sự cúi mình chắp tay đối với tất cả Bồ-tát, sinh mắt thấy khắp thế gian của tất cả Bồ-tát, khởi tâm nhớ khắp chúng sinh của tất cả Bồ-tát, hiện vô lượng thân nguyện hóa của tất cả Bồ-tát, xuất âm thanh khen ngợi sự thanh tịnh của tất cả Bồ-tát, thấy tất cả chư Phật và Bồ-tát quá khứ, hiện tại, thị hiện thành đạo và thần thông biến hóa ở khắp mọi nơi, cho đến không có một chỗ nhỏ nào bằng đầu sợi lông mà chẳng hiện khắp.
Thiện Tài lại được mắt Trí quang minh thanh tịnh, thấy cảnh giới nơi nẻo hành hóa của tất cả Bồ-tát, tâm vào khắp lưới cõi nơi mười phương, nguyện rộng khắp hư không pháp giới, ba đời bình đẳng không ngừng nghỉ.
Tất cả những sự lợi ích lớn mà Thiện Tài đã đạt được, đều do tin thọ lời dạy của Thiện tri thức.
Đến nước Hải Ngạn, Thiện Tài dùng tâm tôn trọng như vậy, cúng dường như vậy, xưng tán như vậy, quán sát như vậy, nguyện lực như vậy, tưởng niệm như vậy, vô lượng cảnh giới trí tuệ như vậy, ở trước lầu gác lớn Tỳ-lô-giá-na Trang Nghiêm Tạng gieo năm vóc đảnh lễ, thoáng chốc thâu giữ niệm, tư duy quán sát.
Do sức của đại nguyện tin hiểu sâu nên nhập môn trí tuệ bình đẳng khắp tất cả xứ, hiện thân mình ở khắp trước chư Như Lai, trước chư Bồ-tát, trước tháp miếu của chư Phật, trước hình ượng của chư Phật, ở trước tất cả chỗ ở của chư Phật và chư Bồ-tát, trước tất cả pháp báu, trước tất cả chư Thanh văn, Bích-chi-phật và tháp miếu của chư vị ấy. Cũng hiện thân mình ở trước tất cả Thánh chúng phước điền, trước tất cả bậc cha mẹ, trước tất cả chúng sinh ở mười phương.
Nơi cả chỗ, Đồng tử Thiện Tài đều tôn trọng lễ tán cùng đời vị lai không thôi nghỉ, ngang bằng hư không vì chẳng có ngằn mé, ngang bằng khắp pháp giới vì không chướng ngại, ngang bằng thật tế vì hiện hữu khắp tất cả, ngang bằng Như Lai vì không phân biệt, dường như bóng vì tùy trí hiện, dường như mộng vì từ tư duy mà khởi, giống như ảnh tượng vì thị hiện tất cả, dường như tiếng vang vì theo duyên mà phát, không có sinh vì xoay vần khởi diệt, không có tánh vì theo duyên mà chuyển.
Lại quyết định biết tất cả báo đều do nghiệp, tất cả quả đều do
nhân, tất cả nghiệp đều do tập khởi, tất cả Phật xuất thế đều do đức tin mà khởi, tất cả sự hóa hiện cúng dường đều do hiểu biết quyết định mà khởi, tất cả hóa Phật đều do tâm cung kính mà khởi, tất cả Phật pháp đều do thiện căn mà khởi, tất cả hóa thân đều do phương tiện mà khởi, tất cả Phật sự đều do đại nguyện mà khởi, tất cả hạnh tu hành của Bồ-tát đều do hồi hướng mà khởi, tất cả pháp giới rộng lớn trang nghiêm đều từ cảnh giới Nhất thiết trí mà khởi.
Rời kiến đoạn diệt nên biết hồi hướng, rời kiến thường còn nên biết không sinh, rời kiến không nhân nên biết chánh nhân, rời kiến điên đảo nên biết lý như thật, rời kiến tự tại nên biết chẳng do nơi khác, rời kiến tự tha nên biết từ duyên khởi, rời kiến biên chấp nên biết pháp giới vô biên, rời kiến vãng lai nên biết như ảnh tượng, rời kiến có không nên biết chẳng sinh diệt, rời kiến nhất thiết pháp nên biết không, vô sinh, nên biết chẳng tự tại, nên biết do nguyện lực xuất sinh, rời kiến nhất thiết tướng nên nhập cảnh vô tướng.
Vì biết tất cả pháp như hạt giống nẩy mầm, như in hiện chữ, vì biết chất như tượng, biết âm thanh như tiếng vang, biết cảnh như mộng, biết nghiệp như huyễn, rõ đời do tâm hiện, quả do nhân khởi, rõ báo do nghiệp tập, biết rõ tất cả pháp công đức đều từ phương tiện thiện xảo của Bồ-tát mà lưu xuất.
Đồng tử Thiện Tài nhập trí như vậy, nhất tâm tịnh niệm, ở trước lầu gác mọp lạy sát đất, vô lượng thiện căn lưu chảy khiến thân tâm mát mẻ thư thái. Rồi đứng dậy, nhất tâm chiêm ngưỡng mắt không hề chớp, chắp tay đi quanh vô lượng vòng, tự nghĩ:
Lầu gác lớn này là chỗ ở của bậc thấu đạt về không, vô tướng, vô nguyện; là chỗ ở của bậc đối với tất cả pháp không phân biệt; là chỗ ở của bậc rõ pháp giới không sai biệt; là chỗ ở của bậc biết tất cả chúng sinh không thể thủ đắc; là chỗ ở của bậc biết tất cả pháp vô sinh; là chỗ ở của bậc chẳng tham chấp tất cả thế gian; là chỗ ở của bậc chẳng tham chấp tất cả nhà cửa; là chỗ ở của bậc chẳng thích tất cả thôn xóm; là chỗ ở của bậc chẳng nương nơi tất cả cảnh giới; là chỗ ở của bậc lìa tất cả tưởng; là chỗ ở của bậc biết tất cả pháp không tự tánh; là chỗ ở của bậc dứt tất cả nghiệp phân biệt; là chỗ ở của bậc lìa tất cả tưởng, tâm, ý, thức; là chỗ ở của bậc chẳng
xuất, chẳng nhập tất cả đạo; là chỗ ở của bậc nhập tất cả các pháp Bát-nhã ba-la-mật sâu xa; là chỗ ở của bậc hay dùng phương tiện trụ pháp giới phổ môn; là chỗ ở của bậc dập tắt tất cả lửa phiền não; là chỗ ở của bậc dùng tuệ tăng thượng dứt trừ tất cả kiến, ái, mạn; là chỗ ở của bậc xuất sinh tất cả Tam-muội thiền giải thoát, thông sáng và tự tại ở trong đó; là chỗ ở của bậc quán sát tất cả cảnh giới Tam-muội của Bồ-tát; là chỗ ở của bậc an trụ của tất cả Như Lai; là chỗ ở của bậc đem một kiếp vào tất cả kiếp, đem tất cả kiếp vào một kiếp mà không hủy hoại tướng thời gian; là chỗ ở của bậc đem một thế giới vào tất cả thế giới, đem tất cả thế giới vào một thế giới mà chẳng hoại tướng không gian;
là chỗ ở của bậc đem một pháp vào tất cả pháp, đem tất cả pháp vào một pháp mà chẳng hoại tướng của pháp; là chỗ ở của bậc đem một chúng sinh vào tất cả chúng sinh, đem tất cả chúng sinh vào một chúng sinh mà không hoại tướng chúng sinh; là chỗ ở của bậc đem một Phật vào tất cả Phật, đem tất cả Phật vào một Phật mà biết tất cả ba đời; là chỗ ở của bậc trong khoảng một niệm đi đến tất cả cõi nước; là chỗ ở của bậc hiện thân mình ra trước tất cả chúng sinh, là chỗ ở của bậc tâm thường tạo lợi ích cho tất cả thế gian; là chỗ ở của bậc hay đến khắp tất cả chỗ, là chỗ ở của bậc dù đã thoát ly tất cả thế gian, nhưng vì hóa độ chúng sinh nên hằng hiện thân ở trong thế gian; là chỗ ở của bậc chẳng chấp lấy tất cả cõi, nhưng vì cúng dường chư Phật mà du hành tất cả cõi;
là chỗ ở của bậc chẳng động chỗ mình mà có thể đến khắp tất cả cõi Phật để trang nghiêm; là chỗ ở của bậc thân cận tất cả Phật mà chẳng khởi tưởng Phật; là chỗ ở của bậc Y chỉ tất cả Thiện tri thức mà chẳng khởi tưởng chấp nơi Thiện tri thức; là chỗ ở của bậc ở nơi tất cả cung ma mà chẳng đắm nhiễm cảnh dục; là chỗ ở của bậc lìa hẳn tất cả tâm tưởng; là chỗ ở của bậc dù hiện thân trong tất cả chúng sinh mà không có quan niệm mình người riêng khác; là chỗ ở của bậc có thể vào khắp tất cả thế giới mà đối với pháp giới không có tưởng sai biệt; là chỗ ở của bậc nguyện trụ nơi tất cả kiếp vị lai, nhưng đối với kiếp số không có quan niệm dài ngắn; là chỗ ở của bậc chẳng rời chỗ ở bằng đầu một sợi lông mà hiện thân khắp tất cả thế giới; là chỗ ở của bậc hay diễn thuyết những pháp khó được gặp
được nghe; là chỗ ở của bậc hay trụ nơi pháp khó biết, pháp sâu xa, pháp không hai, pháp vô tướng, pháp không đối trị, pháp không chỗ thủ đắc, pháp không hý luận; là chỗ ở của bậc trụ đại Từ, đại Bi; là chỗ ở của bậc đã vượt hẳn tất cả trí Nhị thừa, đã siêu việt tất cả cảnh giới ma, đã không nhiễm thế pháp, đã đến bờ của Bồ-tát đã đến, đã trụ nơi chỗ trụ của Như Lai; là chỗ ở của bậc dù rời tất cả tướng mà chẳng nhập chánh vị của Thanh văn, dù rõ tất cả pháp vô sinh mà cũng chẳng trụ nơi pháp tánh vô sinh; là chỗ ở của bậc dù quán bất tịnh mà chẳng chứng pháp ly tham, cũng chẳng cùng tương ưng với tham dục, dù tu hạnh từ mà chẳng chứng pháp ly sân cũng chẳng cùng tương ưng với sân hận, dù quán duyên khởi mà chẳng chứng pháp ly si cũng chẳng cùng tương ưng với si;
là chỗ ở của bậc dù trụ nơi bốn Thiền mà chẳng theo thiền sinh, dù tu hành bốn Tâm vô lượng nhưng vì hóa độ chúng sinh nên chẳng sinh nơi cõi sắc, dù tu bốn Định vô sắc nhưng vì đại Bi nên chẳng trụ nơi cõi vô sắc; là chỗ ở của bậc dù siêng tu chỉ quán nhưng vì hóa độ chúng sinh nên chẳng chứng quả giải thoát, dù thực hành hạnh xả mà chẳng bỏ sự hóa độ chúng sinh; là chỗ ở của bậc dù quán Không mà chẳng khởi kiến không, dù hành Vô tướng mà thường giáo hóa chúng sinh chấp tướng, dù hành Vô nguyện mà chẳng bỏ hạnh nguyện Bồ-đề; là chỗ ở của bậc dù ở trong tất cả nghiệp phiền não mà vẫn tự tại, vì để hóa độ chúng sinh nên tùy thuận các nghiệp phiền não, dù không sinh tử mà vì hóa độ chúng sinh nên thị hiện thọ sinh tử, dù đã rời tất cả loài mà vì hóa độ chúng sinh nên thị hiện vào các cõi;
Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch do AI (Inti Sage) thực hiện: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.