Diệu Tí Bồ Tát Sở Vấn Kinh quyển 4
Tên chữ Hán:妙臂菩薩所問經
Lưu tiến độ đọc kinh
Tạo tài khoản miễn phí để lưu bài kinh, đánh dấu tiến độ và tiếp tục lộ trình học mỗi ngày.
PHÂN BIỆT CÁC BỘ
PHẦN THỨ MƯỜI MỘT
Lại nữa, nay Tôi ở Trì Minh Tạng (Vidyadhāra-garbha) phật biệt hàng Phật Bồ
Tát cho đến các Chân Ngôn, Ấn Khế của các Bộ đã nói.
Đức Như Lai lại nói 3 Câu Đê 5 Lạc Xoa Chân Ngôn kèm với Danh Tự của
Minh Chủ, nên gọi là Trì Minh Tạng.
Tiếp, Quán Tự Tại Bồ Tát cũng nói 3 Câu Đê 5 Lạc Xoa Chân Ngôn với Chân
Ngôn Chủ của Bộ này tên là Mã Thủ (Hayagrīva: Mã Đầu) cũng nói Danh Tự, mọi
loại Man Noa La của Tự Bộ
Lại có 7 Chân Ngôn Chủ, mỗi một Chân Ngôn Chủ này đều có 12 cánh tay,
hoặc 6 cánh tay, hoặc 4 cánh tay, cầm sợi dây Bất Không (Amogha-pāśa) biến hiện
tùy ý. Hoặc có 4 mặt, đầu đội mão báu, trang nghiêm bằng báu Như Ý, ánh sáng chiếu
rực rỡ như mặt trời soi chiếu Thế Gian. Chân Ngôn Chủ của nhóm này đều gọi là Man
Noa La Sở Quán của Mã Thủ.
Lại có 8 Minh Phi (Vidya-rāñji) tên là: Mục Tinh (Tārā), Diệu Bạch (Suśveta),
Quân Bạch (Pāṇḍara-vāsinī: Bạch Xứ), Quán (Vilokini: Quán Thế), Nhất Kế (Eka
Jaṭa), Kim Nhan (Suvarṇa-mukha), Danh Xưng (Yaśa), Bật Sô Câu Đê (Bhṛkuṭī).
Nhóm này đều là Minh Phi của Liên Hoa Bộ.
[Bản khác thì ghi 8 vị Minh Phi là: Tārā, Śvetarkya, Pāṇḍaravāsini, Vilokani,
Gauri, Yaśamati, Yaśodhara, Bhṛkuṭi]
Lại nói 7 Câu Đê Chân Ngôn, mọi loại Man Noa La (Maṇḍala: Đàn Trường)
với các tay Ấn để lợi ích cho tất cả chúng sinh bần cùng và giáng phục tất cả loài Quỷ
Tiềm Hành (làm một cách âm thầm ) gây chướng.
Lại có 17 Chân Ngôn Chủ và 64 Quyến Thuộc
Lại có 8 Đại Minh Vương (Mahā-vidyarāja)
Lại có các Đại Phẫn Nộ Minh Vương (Mahā-krodha Vidyarāja), Cam Lộ
Quân Noa Lợi Minh Vương (Amṛta-Kuṇḍali Vidyarāja), Tối Thắng Minh Vương
(Vijaya Vidyarāja), Đại Uy Đức Minh Vương (Yamāntaka Vidyarāja)
Bộ này của Tôi (Kim Cương Thủ) tên là Quảng Đại Kim Cương Tộc, nói 8 Lạc
Xoa Chân Ngôn.
Lại có vị Đại Thần (Mahā-devatā) tên là Bán Chi Ca (Pañcika) nói 20 ngàn
Chân Ngôn. Vị Thần này có vợ (Phi) tên là Di Ca La (Mikara) nói 10 ngàn Chân Ngôn
đều là Bán Chi Ca Bộ (Pañcika-kulāya)
Lại có vị Đại Thần tên là Ma Ni Bạt Đà La (Maṇi-bhadra: Bảo Hiền) nói một
Lạc Xoa Chân Ngôn. Lại có Tài Chủ (Dhānapati) nói 3 Lạc Xoa Chân Ngôn đều là
Ma Ni Bộ (Maṇi-kulāya)
Lại có tất cả Trời, Rồng, A Tu La… các vị tin Phật liền ở trước mặt Đức Phật
nói vô lượng Chân Ngôn. Nhóm này tán nhập vào các Bộ. Hoặc nhập vào Đại Kim
Cương Bộ (Mahā-vajra-kulāya) của Tôi, hoặc nhập vào Đại Liên Hoa Bộ (Mahā-
padma-kulāya) , hoặc nhập vào A Súc Tỳ-dã Bộ (Akṣobhya-kulāya: Bất Động Bộ)
hoặc nhập vào Bán Chi Ca Bộ, hoặc nhập vào Ma Ni Bộ.
Như trên đã nói về Giáo của mọi loại Chân Ngôn. Ở trong 5 Bộ này, các người
Hữu Hạnh đều có thể tu hành.
Lại nói về Sở Thuyết của Đức Thế Tôn có Nội Thắng Tối Thượng Bảo. Tiếp lại
ở đây tuôn ra Cứu Cánh Pháp Bảo, từ đây chuyển sinh 8 Đại Trượng Phu Bất Thoái
Chúng Bảo. Ba Báu như vậy ở trong 3 cõi (Tam Giới) làm ruộng phước to lớn tối tôn
tối thắng. Chính vì thế cho nên Hành Nhân muốn được diệt tội sinh phước với Bản Tôn
hiện tiền , mau thành Tất Địa thì lúc niệm tụng, trước tiên quy mệnh 3 Báu như vậy.
Hoặc nếu có trì tụng Chân Ngôn trong Kim Cương Bộ của Tôi, trước tiên nên
Quy Mệnh Tam Bảo, tiếp lại xưng tán: “Na Mô Thất Chiến Noa, Bạt chiết la bá
noa duệ, ma ha dược xoa tế na bát đá duệ”
*) NAMO RATNA-TRAYĀYA ( Quy mệnh Tam Bảo)
NAMAḤ ŚCAṆḌA VAJRAPĀṆAYE MAHĀ-YAKṢA-SENAPATĀYE
(Kính lễ Bạo Nộ Kim Cương Thủ Đại Dược Xoa Quân Chủ Đẳng)
Sau đó, liền tụng Chân Ngôn. Đối với Liên Hoa Bộ, Bán Chi Ca Bộ, Ma Ni Bộ
cũng vậy
Lại nữa, người hành trì tụng vào lúc trì tụng. Trước tiên quy mệnh Tam Bảo,
tiếp lại quy mệnh Bản Bộ Minh Chủ, xong có thể trì tụng Bản Tu Chân Ngôn.
Nếu Hành Nhân này chẳng tin Phật lại chỉ tin vào Pháp của hàng Bích Chi
(Pratyeka Buddha), Thanh Văn (Śravaka) thì niềm tin đã chẳng đủ, với lại bên trong
thường ôm ấp sự ganh ghét đố kỵ nên chẳng được cầm giữ Đại Bát Chiết La (Mahā-
vajra: chày Kim Cương ) do Giáo của Tôi đã nói.
Lại có Tỳ Khưu, Tỳ Khưu Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di dùng Tà Kiến chê bai Giáo
Diệu Chân Ngôn của Đại Thừa, nói đấy chẳng phải là Chính Thuyết mà là Sở Thuyết
của Ma. Tôi nói người này là kẻ đại ngu si
Lại nói Tôi, Đại Kim Cương Thủ chỉ là loài Dạ Xoa (Yakṣa) chẳng phải là Bản
Tông Chân Thật nên chẳng tín lễ, cho đến chẳng tín lễ các Đại Bồ Tát. Nếu hoặc có kẻ
trì tụng Diệu Chân Ngôn của Tôi, chẳng bao lâu tự gặt lấy sự tổn hại. Tại sao thế?
Đúng ra hàng Phật Bồ Tát không hề khởi tâm ác gây não hại cho Hữu Tình. Xong tất
cả quyến thuộc, các hàng Quỷ Thần ở trong Duyên Bộ nhìn thấy kẻ ngu si này cầm Đại
Bạt Chiết La (chày Kim Cương) thuộc Kim Cương Tộc của Tôi, kèm trì tụng Diệu
Chân Ngôn thuộc Giáo của Tôi thì các quyến thuộc ấy liền dùng mắt giận dữ nhìn cho
đến phá hoại thân mệnh.
Nếu có Hành Nhân trong 4 Chúng tu hành. Lúc bình thường, đọc tụng Giáo của
Đại Thừa Phương Quảng. Lại hay vì các Hữu Tình phân biệt giải nói, đủ đại tinh tiến
chuyển bánh xe Bất Thoái, một lòng hướng đến Vô Thượng Bồ Đề. Nên biết người
này trì tụng Giáo của Tôi, ắt quyết định mau được thành tựu ý lạc (niềm vui của ý).
Lại nữa, lúc trước Tôi đã nói về Giáo của mọi loại Chân Ngôn của hàng Phật Bồ
Tát. Ông nên chuyên tâm tin nhận, đừng sinh tâm nghi ngờ. Nay Tôi lại vì ông mà nói
về Giáo Chân Ngôn của Thế Gian Xuất Thế Gian, Ngoại Đạo với Thiên Ma, Phạm
Thiên… Ông nên lắng nghe
Đại Tự Tại Thiên (Maheśvara) nói 10 Câu Đê Chân Ngôn
Na La Diên Thiên (Nārāyaṇa) nói 30 ngàn Chân Ngôn
Đại Phong Thiên (Mahā-vāyu Deva) nói 60 ngàn Chân Ngôn
Nhật Thiên (āditya Deva) nói 2 Lạc Xoa Chân Ngôn
Đế Thích Thiên Chúng (Indrāya) nói 18 ngàn Chân Ngôn
Tán Ni Ca (Śaṇḍika) nói 8 ngàn Chân Ngôn
Hỏa Thiên (Agni Deva) nói 3700 Chân Ngôn
Câu Vĩ La (Kubera) nói 3 ngàn Chân Ngôn
Các Long Vương (Nāga Rāja) nói 5 ngàn Chân Ngôn
Các Quỷ Vương nói 12 ngàn Chân Ngôn
Hộ Thế Tứ Đại Thiên Vương (Catur-mahā-rājika Deva) nói 4 Lạc Xoa Chân
Ngôn
Đao Lợi Thiên Chủ (Trāyastriṃśa Devādhipati) nói 2 Lạc Xoa Chân Ngôn.
Hàng Thiên như vậy, mỗi mỗi đều nói mọi loại Chân Ngôn, Ấn Khế và Nghi
Quỹ của Man Noa La, có thể y theo Pháp thọ trì. Nếu trái ngược Bản Giáo thì chẳng
những Chân Ngôn không được thành tựu mà lại tự rước lấy tội lỗi vậy.
NÓI VỀ TÁM PHÁP
PHẨM THỨ MƯỜI HAI
Lại nữa, Pháp Thành Tựu gồm chung có 8 loại là:
1) Pháp thành Chân Ngôn
2) Pháp thành trường niên (sống lâu)
3) Pháp Dược thành tựu (thành tựu thuốc men)
4) Pháp Xuất Phục Tàng (lấy kho tàng)
5) Pháp vào cung Tu La
6) Pháp hợp thành vàng (luyện Kim)
7) Pháp đất thành vàng (chỉ đá hóa vàng)
8) Pháp thành Vô Giá Bảo (báu vô giá)
Tám Pháp này nói làm 3 Phẩm
_ 3 Pháp: Thành Chân Ngôn, Thành Trường Niên, vào cung Tu La là Thượng
Phẩm
_ 3 Pháp: Thành Vô Giá Bảo, Xuất Phục Tàng, Thổ Thành Kim là Trung Phẩm
_ 2 Pháp: Hợp Thành Kim, Dược Thành Tựu là Hạ Phẩm
Nếu lại Hữu Tình có Trí Tuệ hơn người và có uy đức cũng lại thích tu Pháp Đại
Thừa. Người như vậy có thể cầu Thượng Phẩm
Nếu lại có Hữu Tình, tuy tu hành đã đủ nhưng chưa ngừng dứt tham dục thì có
thể cầu Trung Phẩm
Nếu lại có Hữu Tình, vì còn ngu si thì có thể cầu Hạ Phẩm
Các người có Hạnh, cho dù chịu đủ sự nghèo khổ, thường chẳng được đầy đủ
cũng nên cầu Trung Phẩm, chẳng nên cầu Hạ Phẩm
Nếu muốn được mọi loại thành tựu của 8 Pháp, cần phải tu Phước để làm Tư Trì
(giữ gìn của cải)
Nếu người có Phước cầu khoái lạc của Người, Trời với tất cả Ái Lạc: Sống lâu,
mạnh khỏe, uy lực, Đặc Tôn, đoan chính, thông minh… thì Pháp đều thành tựu.
Nếu có Hành Nhân chẳng vương vấn vào niềm vui của Thế Gian. Yêu thích tu
hành, đối với Tam Bảo thường luôn ghi khắc trong tâm, thường tu trì đủ Pháp Tắc
Chân Ngôn, lại nơi sự niệm tụng chẳng bị gián đoạn. Người như vậy ắt hay thành tựu,
trừ diệt tội chướng và giải thoát các khổ.
Nếu lại hay ở đời hiện tại và đời vị lai thành các khoái lạc nhưng chỉ nhớ uy lực
của Chân Ngôn do Đức Phật nói, tức không có Pháp khác. Ví như Trời giáng lửa gây
họa, giáng mưa đá hay làm hại cây cỏ thì không có thứ gì có thể tránh được. Uy Lực
của Chân Ngôn hay đập tan khổ não với các tội chướng cũng lại như vậy.
Lại như Kiếp Thụ (Kalpa-vṛkṣa: cây Ước Nguyện) hay mãn tất cả ước nguyện
của Hữu Tình. Lực của Chân Ngôn hay ban cho Hữu Tình tất cả Tất Địa cùng với sự
giàu có, sắc đẹp, sức khỏe, sống lâu… cũng lại như vậy.
Lại nữa, Bồ Tát quán sát các Hữu Tình, hoặc vướng nạn vua chúa, hoặc nạn
nước lửa cho đến nạn trộm cướp, kiếp sát…tất cả sự khổ não sợ hãi vây bủa thân
tâm…Đối với điều này, Bồ Tát liền tự biến thân thành mọi loại sắc tướng của Chân
Ngôn Chủ cứu tế Hữu Tình khiến được giải thoát.
Lại nữa, có Hữu Tình ở tại nhà yêu dính cảnh màu nhiệm (Diệu Cảnh). Đối với
Chân Ngôn Pháp và Nghi Quỹ, tuy hàng ngày có trì tụng nhưng chưa được tinh tiến
mạnh mẽ sắc bén, theo thời gian lâu dần mới thành đủ số của Tiên Hành (Pháp hành
lúc đầu). Đủ Tiên Hành rồi hoặc nghiệm trước mắt. Liền ở lúc đấy mới xa lìa 5 Dục,
đủ Giới thanh tịnh, đi vào Tĩnh Thất, liền tụng Chân Ngôn mãn một Lạc Xoa. Sau đó
chẳng lâu liền được Tất Địa đã ưa thích.
Lại nữa, Hành Nhân vào lúc trì tụng, hoặc lúc Tất Địa. Vào Man Noa La, gần
gũi các Thánh Hiền, đã tu Pháp Yếu này cần phải thanh tịnh.
Phép tắm rửa: Trước hết dùng nước sạch hòa đều với đất sạch rồi xoa khắp thân
thể. Sau đó bước vào trong nước lớn (ao, hồ…. ) tùy ý tắm rửa.
Rửa sạch tay chân xong. Hoặc hướng mặt về phương Đông hay phương Tây,
ngồi xổm (Tông Cứ Tọa) làm pháp Hộ Thân. Liền dùng tay phải lấy nước rưới vảy lên
thân thể, chẳng để cho nước phát ra tiếng động. Lại dùng tay phải lấy một bụm nước
chứa trong lòng bàn tay, nước trong lòng bàn tay chẳng được nổi bọt. Tụng Chân
Ngôn, Chú vào nước trong lòng bàn tay 3 lần rồi hớp 3 hớp, cũng đừng để phát ra tiếng
động. Sau đó dùng nước, đưa ngón cái chùi 2 bên miệng và rải trên thân dùng để Hộ
Thân. Sau đó, đột nhiên biết trong răng có cặn dư lại dùng tay chạm vào, hoặc liền ho
hắng nhổ ra, hoặc biết ợ hơi lên. Tức nên như trước, Chú vào nước, hớp nước, chùi
miệng, xúc miệng.
Tắm rửa xong, liền vào Tịnh Thất. Từ đây về sau chẳng được nói chuyện với
người khác, chỉ trừ Trợ Bạn. Ngoài ra dù là nam nữ, tại gia hay xuất gia, kẻ Ngoại
Đạo, bậc Sa Môn, người có Tịnh Hạnh, đồng nam, đồng nữ hoặc người lớn tuổi cho
đến người chẳng phải nam… Các người như thế, chẳng được tiếp xúc và nói chuyện.
Nếu đã tiếp xúc, lại nên như trước: Tắm rửa, lau miệng, xúc miệng.
Nếu có Hành Nhân thường vui thanh tịnh, tắm rửa thân thể, vui trì tụng và
thương xót tất cả Hữu Tình. Cũng chẳng nên đối với việc Tha Lợi (lợi của người khác)
mà nuôi tâm tham ái. Đi khất thực, tự an trụ, tu hạnh Chân Ngôn. Người như vậy tự
nhiên đắc được Diệu Đà La Ni.
Lại nữa, Hành Nhân nếu cầu Tất Địa. Vào lúc niệm tụng, hoặc có người đến
dâng cho quần áo đẹp, vàng bạc, châu báu, ngựa xe trang nghiêm, dầu thơm, hương đốt
cho đến thức ăn uống với tất cả nhạc cụ, hoặc nhiều hoặc ít đều chẳng nên nhận.
Lại nữa, Hành Nhân vào lúc cầu thành tựu. Phàm khi đại tiểu tiện xong, mỗi
mỗi đều nên y theo Pháp, dùng đất nước cọ rửa nhiều lần để cầu thanh tịnh. Nếu nhịn
ăn thì tốt nhất vì tránh được sự húc uế xông lên các Hiền Thánh.
Lại nữa, Hành Nhân đang cầu thành tựu, lại do vì có tội chướng mà chẳng được
Tất Địa hiện tiền. Liền nên trước hết tụng niệm nhiều lần, bày tỏ Sám Hối. Ví như sức
nóng của mùa hè, gió lay các cây. Do gỗ cọ sát nhau nên bén lửa cháy, chẳng thêm
công cụ , tự nhiên đốt cây cỏ. Nếu các Hành Nhân dùng gió tinh tiến lay cây Tịnh Giới,
sinh lửa niệm tụng, thiêu đốt các tội…cũng lại như vậy.
Lại như mùa Đông, tuyết tự ngưng kết. Vì mặt trời chiếu soi nên tuyết tự tiêu
tan. Hành Nhân dùng mặt trời Giới Thanh Tịnh phóng tỏa ánh sáng thì tuyết tội liền
tiêu hết…cũng lại như vậy.
Lại nếu Hành Nhân, trong ngoài đã gom chứa Nghiệp Đen, đột nhiên theo lửa
Tuệ châm đốt đèn niệm tụng thì hào quang uy lực của sự sáng (Minh) đẩy hết các
nghiệp đen tối.
Lại nữa, Hành Nhân trì tụng tu hành cho đến Hộ Ma. Do chẳng được Tất Địa,
nên đem bùn thơm hòa với cát sạch. Hoặc ở bên bờ sông, hoặc bên ao suối, chọn lựa
Thắng Xứ, ấn tạo thành Tháp, đủ một Lạc Xoa cái Tháp tưởng đồng với Tháp Xá Lợi
của Như Lai. Dùng tâm cung kính cho nên tất cả tội chướng đã tạo tác từ vô thủy đến
nay đều được tiêu diệt. Tức ở đời này, Chân Ngôn Tất Địa mong cầu, quyết định hiện
ra trước mắt.
Lại nữa, người trì tụng cầu tất Địa, dùng sự Trì Giới làm căn bản. Sao đó vận
Tâm Bồ Đề phát tinh tiến dũng thí, chính cần lực, trì tụng Chân Ngôn chẳng trễ lui, đối
với PhậtBồ Tát sinh cung kính gấp bội. Ví như vị Chuyển Luân Vương có đủ 7 báu
mới cai trị đất nước được yên ổn. Người hành trì tụng phụng Giới thanh tịnh cho đến
đối với chư Phật Bồ Tát sinh cung tín. Nếu đủ điều này mới trừ diệt tội chướng, sẽ
được Tất Địa.
Lại nữa Hành Nhân tu Pháp Tiên Hành, dùng nhiều để được hơn, trì tụng đủ số,
sau đó làm Hộ Ma. Dùng Hộ Ma liền được Bản Tôn vui vẻ. Chính vì thế cho nên Hành
Nhân đối với việc mong cầu liền được thành tựu Ý Lạc.
Nếu lại có Hành Nhân làm Pháp Nhiếp Hỷ Nhân, ý có nơi vui thích cho đến
cực xa cả 100 Do Tuần, từ ấy trở đi đều là Dược Xoa Nữ. Như lại có người muốn
thành tựu Dược Xoa Nữ, giả sử được Tất Địa thì chẳng phải thù thắng. Ví như người
đời khoe mình bán nữ sắc cho người hành dục. Dược Xoa Nữ ấy cũng lại như thế, biến
ở thân hình đến chỗ Hành Nhân, phụng sự cung cấp, tất cả chẳng trái ngược, vốn chẳng
phải vì tình ái mà chỉ vì Sở Nhiếp của sức Chân Ngôn. Tuy cùng ở chung, không làm
điều trái ngược. Xong Tâm ác hằng còn, thường rình xem chỗ yếu của người đó, tìm
được lỗi lầm liền gây tổn hại. Chỉ có kẻ ngu si, vì dâm dục mới cầu Tất Địa này. Chẳng
những tự phạm vào lỗi của Tà Hạnh mà bên trên còn trái ngược với 4 Tâm Đại Nguyện
của chư Phật Bồ Tát, Bích Chi, Thanh Văn, tất cả Thánh Hiền. Do đó người có Trí
chẳng làm việc lỗi lầm ấy.
Hết thảy tất cả Trời, Người, A Tu La, Dạ Xoa, Rồng, Càn Đạt Bà cho đến Bộ
Đa với các loài Quỷ vì tin trọng Đức Phật mà làm điều lợi ích. Ở trước Đức Thế Tôn tự
nói Bản Minh cầu xin Đức Phật chứng hứa. Đức Phật dùng Bi Nguyện nhiếp thọ tất cả.
Lại nữa, Đức Thế Tôn vì tất cả Hữu Tình ở đời vị lai không có Chủ, không có
nơi nương tựa mà phân biệt giải nói tu Hạnh Chân Ngôn tức được Quả của 3 phẩm
Thượng, Trung , Hạ.
Quả Thượng Phẩm là: Được Thần Thông, vào hang A Tu La, ẩn thân tự tại và
biến thân làm chồng, chủ của Dược Xoa Nữ. Hoặc thành Thuốc Thánh, hoặc liền biến
thân thành hàng Mật Tích, hoặc làm Chủ của nước Quỷ, hoặc hiện tướng Phẫn Nộ
giáng phục các Quỷ Thần với tất cả hàng Tú Diệu
Trung Phẩm là: Cầu sống lâu, hoặc cầu được yêu trọng, hoặc cầu địa vị cao
quý, hoặc cầu giàu có.
Hạ Phẩm là: Dùng uy lực của Pháp với lực của Chú. Thuốc trị bệnh do hàng
Trời, Rồng, Dạ Xoa, tất cả Bộ Đa, loài Tiềm Hành Quỷ, Tác Chấp Mỵ tạo ra. Hoặc
dùng Chú Lực trị tất cả Độc, hoặc Cấm, hoặc bắt trói tất cả loài có độc, hoặc trừ tất cả
bệnh vướng chất độc của thuốc.
Lại nữa, Đức Phật có nói: Ở các Thế Gian có vô lượng loài rắn, trùng có độc
hay không có độc. Nói lược thì tổng cộng có 4 loài là: 1 răng nanh, 2 răng nanh, 3 răng
nanh, 4 răng nanh. Ở 4 loài này chia làm 80 loại. Bên trong có 20 loại ngóc đầu lên mà
đi. 6 loại khi đứng lại thì quấn quanh thân. 12 loại tuy có kim châm nhưng không có
độc. 13 loại là vua của loài rắn. Ngoài ra, bên ngoài có loại nửa trùng nửa rắn.Lại loài
trùng có độc, ấy là: con cóc, con nhện với Ngu Đà…Loài như vậy, số lượng còn nhiều.
Xong nhóm có độc của loài trùng này chỉ có 6 loại
1) Phân độc: Phân của nó dính vào người tức liền phát độc
2) Nước tiểu độc: Nước tiểu của nó dính vào người tức liền phát độc
3) Xúc độc: Tùy chạm vào thân người tức liền phát độc
4) Nước rãi độc: Người bị thấm nước rãi của nó tức liền phát độc
5) Mắt độc: Mắt của nó nhìn vào người tức liền phát độc
6) Răng nanh độc: Tùy chỗ bị cắn tức liền phát độc
Lúc trước đã nói về rắn có chất độc nhiều ít
_ Loài 1 răng nanh cắn vào sẽ lưu lại một dấu răng. Loài này có ít độc, tên gọi
là Thương (vết thương, bị thương)
_ Loài 2 răng nanh cắn vào sẽ lưu lại 2 dấu răng có máu chảy ra, tên gọi là
Huyết Ô (máu dơ)
_ Loài 3 răng nanh cắn vào sẽ lưu lại 3 dấu răng gây thương tích rất nặng, tên
gọi là Tổn (hao mất, hư hại)
Ba loài này tuy có độc , nhưng có thể cứu
_ Loài 4 răng nanh cắn vào sẽ lưu lại 4 dấu răng, bệnh độc lan khắp thân, quyết
định chạy đến chết, tên gọi là Mệnh Chung
Loài thứ tư này, hoặc nương vào Pháp Lực mới có thể cứu được.
Xong các độc bị trúng. Nếu dùng thuốc cứu chẳng thể bằng lực của Chân Ngôn.
Tại sao thế? Ví như lửa cháy cực mạnh, nếu gặp nước lớn thì lửa liền tắt. Lữc của Đại
Chân Ngôn nhiếp loài độc ấy cũng lại như vậy. Các bậc Trí khéo biết mọi loại độc như
vậy. Thường thời trì tụng Đại Uy Chân Ngôn sẽ cùng đùa chơi với độc không có sợ
hãi. Tại sao vậy ? Ví như Sư Tử đùa giỡn với loài bò cũng lại như thế.
Lại nữa có Thiên Mỵ (Deva Grahā), A Tu La Mỵ (Asura Grahā), Dược Xoa
Mỵ (Yakṣa Grahā), Long Mỵ (Nāga Grahā), Càn Đạt Bà Mỵ (Gandharva Grahā),
Ngạ Quỷ Mỵ (Preta Grahā), cho đến mọi loài Mỵ (Grahā) của hàng Tỳ Xá Già
(Piśāca)…Hoặc cầu Tế Tự, hoặc đến trêu ghẹo đùa giỡn, hoặc muốn giết hại. Dùng các
điều như vậy du hành Thế Gian, thường ăn máu thịt, rình kiếm lỗi của người, hoặc lại
nhân lúc giận dữ mà cột trói Hữu Tình, hoặc nhân lúc đói khát mà nhiễu loạn Hữu
Tình. Hoặc khiến cho Tâm bị loạn, hoặc ca, hoặc múa, hoặc vui, hoặc buồn, hoặc liền
sầu não, hoặc liền nói năng lung tung. Gây mọi loại dị tướng khiến cho người cười
quái dị. Liền dùng Kim Cương Kiếm (Vajra Adi) hoặc Chân Ngôn của hàng Cam Lộ
Phẫn Nộ Kim Cương (Amṛta-krodha-vajra) trị tức được trừ khỏi.
Lại nên dự trù , cần biết tính của các loài Mỵ của hàng ấy với pháp trị liệu thì
mới có thể làm việc tồi phục mà không có sợ hãi. Có điều dùng Chân Ngôn do chư
Phật Bồ Tát đã nói để gia lâm (thêm vào). Tại sao thế? Vì không có lực Chân Ngôn
của chư Thiên nào có thể phá được lực Chân Ngôn của hàng Phật Bồ Tát.
Lại nữa, nay Tôi liền nói về Pháp Diệt Tội. Nếu có Hành Nhân muốn tu Pháp
này, nên tìm cầu nơi u thâm thanh tịng sát cạnh sông. Dùng bùn thơm hòa với cát tạo
nơi Chế Để (Caitye: Thánh Điện, Tháp thờ) trong đó đặt Diệu Kệ của Pháp Thân
(Dharma-kāya) thì hàng Phạm Thiên với tất cả Trời, Dược Xoa, Trì Minh Đại Tiên
(Vidyadhāra Mahā-ṛṣi) cho đến hàng Ca Lâu La, Càn Đạt Bà, Bộ Đa…nhìn thấy liền
cung kính lễ bái. Tất cả chắp tay nói rằng: “Thật hiếm có! Thật hiếm có! Bậc Đại Từ
Bi có lòng thương xót tất cả hàng Hữu Tình không có nơi nương tựa, không có chỗ
cư trú mà làm việc này. Hiếm có thay! Hiếm có thay! Người hành vi diệu, thương
xót Hữu Tình mà làm việc như vậy”
Do uy lực của Pháp cho nên các hàng Trời ấy nhìn thấy Hành Nhân, tay cầm
chày Đại Kim Cương tỏa ánh sáng rực rỡ. Hoặc nhìn thấy tay cầm chày sắt kiên cố.
Hoặc thấy tay cầm bánh xe to lớn mạnh mẽ sắc bén (Mãnh lợi đại luân). Hoặc thấy tay
cầm sợi dây Bất Không (Amogha-pāśa). Hoặc thấy tay cầm Đại Xoa Tam Cổ. Hoặc
thấy tay cầm cây Bổng, hoặc Nhất Cổ Xoa, hoặc thấy tay cầm đủ mọi loại khí trượng
đặc biệt đáng sợ,.hoặc thấy tướng mặt đoan nghiêm thù đặc, phàm có ai nhìn thấy đều
vui vẻ yêu thích. Các hàng Trời ấy cho đến hàng Bộ Đa (Bhūta) đều nói rằng: “Chúng
tôi quy mệnh Tôn Giả. Chẳng bao lâu Ngài sẽ là Trì Minh Đại Tiên cho đến thấp
hơn cũng là bậc phú quý. Nếu có tu hành Chính Pháp như vậy thì người ấy mau
diệt được tội chướng, chẳng nhận đại khổ, ở Thế Gian có uy diệu như mặt trời xuất
hiện. Chúng tôi hộ trì Hành Nhân như vậy, chẳng để cho tâm bị nhiễu loạn cho đến
sẽ được thành tựu như ý”
Các hàng Phạm Thiên nói lời này xong đều rất vui vẻ, cúi đầu lễ dưới chân rồi
nương theo Bản Tòa lui tán ra đi.
Bấy giờ Kim Cương Thủ Bồ Tát bảo Diệu Tý Bồ Tát rằng: “Này Diệu Tý! Nay
Tôi đã nói, ông đã nghe xong. Ông có thể ở Thế Gian mà lưu truyền cứu độ”
Thời Diệu Tý Bồ Tát bẩm thụ phụng hành, đỉnh lễ rồi lui ra. Liền ở Thế Gian
rộng vì Hữu Tình lưu truyền diễn nói
DIỆU TÝ BỒ TÁT SỞ VẤN KINH
QUYỂN THỨ TƯ (Hết)
11/10/1999
Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch bằng AI do Inti biên soạn: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.