Inti DharmaInti Dharma
Kinh điển
Đại Thừa — Tạng Bắc Truyền · Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh (Việt dịch)

Bồ Tát Tòng Đâu Thuật Thiên Hàng Thần Mẫu Thai Thuyết Quảng Phổ Kinh quyển 2

Tên chữ Hán:菩薩從兜術天降神母胎說廣普經

📖8,144 từ · ~33 phút đọc
2

Lưu tiến độ đọc kinh

Tạo tài khoản miễn phí để lưu bài kinh, đánh dấu tiến độ và tiếp tục lộ trình học mỗi ngày.

Tạo tài khoản
Bản dịch đầy đủ (Tiếng Việt)

BỒ TÁT TÙNG ĐÂU THUẬT THIÊN HÀNG THẦN MẪU THAI THUYẾT QUẢNG PHỔ KINH - QUYỂN 2

KINH BÒ TÁT TÙNG ĐẦU THUẬT THIÊNGIÁNG THẢN MÁU THAI THUYẾTQUẢNG PHÔQUYEN H

Phẩm 4: PHẬT THỌ

Sắp nhập vào cảnh giới Niết- bàn Vô dư,Đức Thê Tôn cho nhóm họp các Bồ-tát có thầnthông, đức lớn và dùng thần thông biến hóa,giảng nói pháp không thê nghĩ bàn:-Ta có thể biến hóa làm cây bảy báu vượtqua sông đài này. Người nào bị chìm đăm trongsinh tử thì được giải thoát. Rồi liền nhập vàođịnh Lưu ly, Tam-muội Vô hình.Về phương Đông, cách cõi Ta-bà này sáumươi bôn ức hà sa cõi, Ta biến hóa cây bảy báuđây khắp trong đó. Thân, nhánh, cành, lá, quảtrên các cây báu ấy đều có cung điện bảy báu.Mỗi cung điện có một Đức Phật. Chư Phật đềugiảng nói bốn pháp vô thường. Đẳng sau cóvườn và ao với nhiêu loài chim tụ tập, dạo chơitrong vườn ấy, thật hoan lạc không gì tả nối.Trong ao mọc hoa sen Ưu-bát, hoa Tu-càn- đè,hoa Mạt-càn-để. Trên bờ có hoa Chiêm-bặc,hoa Tu-mạn-la với mùi hương Ngưu-đầu-chiên-đàn, hương vụn. Cờ phướn, lụa trời treo đây hưkhông.Khi ấy, vua thân gió tên Tùy Ý phóng gióđại hương thối lá cây bảy báu đưa qua đưa lại,mêm mại dịu dàng, làm lay động cành lá chạmvào nhau phát ra tám loại âm vang. Kỳ lạ nữa làphóng ra ánh sáng lớn. Tám loại âm thanh củaNhư Lai là nhăm độ người chưa độ. Ai thâyđiềm ứng ây liên nói: “Xưa kia ta không nghenhư thê và cũng không thây tướng sinh diệt vôthường, đâu phải là huyễn hóa chăng?”.Bây giờ, trong cung điện trên cây bảy báu,chư Như Lai Chí Chân Đắng Chánh Giác phátra âm thanh lớn, xiến dương pháp không thểnghĩ bàn khó có, giảng nói trong Bát địa làmtrang nghiêm các cõi Phật. Giống như có ngườithích nhìn nước của biển cả, cách biển một trămdo-tuần không thây các cây côi đâu cả, gặp đượcmột sông lớn liên nếm vào thì biết biển còn xa.Khi ây, tự mình làm phương tiện để qua biến.Đên lúc không còn thây hình tướng, niệm địnhnhư hư không thì mới đến bờ biến. Dùng tâm vôNIÉT BÀN - BỘ3úy để tự trang nghiêm thân và nói: “Lành thayđại Thánh, những gì con mong muốn nay đã đạtđược, thật là sung sướng vui mừng không mệtmỏi”.Ngay khi â Ấy, người này xả bỏ hết những gìtrong cuộc sông để vào biển. Những ướcnguyện xưa đêu hiện ra trước mặt. Đại Bồ-tátcũng vậy, dứt bỏ Nhất trụ để lên đến địa Lụctrụ, dẹp trừ các kiết sử cho chúng sinh, khôngcòn vướng lại một chút nào cả. Nay ta thànhPhật, tất nhiên không nghi ngờ. Đó gọi là ởtrong thai Đại Bồ-tát trang nghiêm cây giácngộ.Lại nữa, Đại Bồ-tát tự mình muốn thântướng trang nghiêm, đây đủ ba mươi hai tướngchân thật của đại nhân không. Từ đỉnh đâuxuống đến chân, chân có ngàn bánh xe, mỗibánh xe có ngàn căm hoa, môi căm hoa có ngàntướng, mỗi tướng có sáu độ vô cực tạo thành.Không thây đảnh tướng tức là phá núi kiêu mạn,đặc thành tướng nhục kê.Từ vô số a-tăng-kỳ kiếp, ta đã được quả báokhông phạm dâm dục nên được tướng mã âmtàng. Tướng mã âm tàng có công năng phá. trừcác tà kiến và phóng tướng ánh sáng khắp hắnghà sa cõi trong mười phương, mỗi ánh sáng đềucó hóa Phật, mỗi hóa Phật đều ngôi nơi tòa caObảy báu phát ra âm thanh diễn nói sáu độ vô cựcnhư pháp mà chư Như Lai thường nói là khô,tập, diệt, đạo, bố thí, trì ĐIỚI, nhẫn nhục, tinhtân, thiền định, trí tuệ Ba-la-mật, dùng phươngtiện thiện xảo làm cho hiểu rõ các pháp: Khôngkhông, đại không, vô lượng không, nội không,ngoại không, tôi không, hành không, tướngkhông, báo không, diệt tam tai không, tam minhbáo không, tam tuệ không, tam đạt không, tamđăng không, tam thế không, ba phân pháp thânkhông, ba cõi tịch tĩnh không: quá khứ, hiện tạivà vị lai không. Đó là tướng quả báo do khôngdâm dục của Đại Bồ-tát.Từ a-tăng-kỳ kiếp. đến nay, ta luôn tu miệngthanh tịnh, không đến người kia nói chuyệnngười này, không đến người này nói chuyệnngười kia, nên đắc tướng lưỡi dãi rộng biếnkhắp a-tăng-kỳ hẳng hà sa cõi trong mườiphương, phóng ánh sáng từ tướng lưỡi, mỗi ánhsáng đêu có hóa Phật, mỗi hóa Phật đêu ngôitrên tòa bảy báu dùng âm thanh thanh tịnh diễnnói vô lượng khâu hành. Do nghiệp báo thanhtịnh chân thật tạo ra nên thành tựu bốn vô ÚY,hiểu rõ các pháp không đến, không đi, âm vọngthanh tịnh, vượt qua nỗi sợ sinh tử khôngNIÉT BÀN - BỘ3chướng ngại, phân biệt rõ ràng mỗi âm thanhvọng lại của chúng sinh, diễn nói với vô lượngtrí tuệ biện tài, vượt qua vực sâu trong nămđường, mỗi pháp mỗi pháp đều được thành tựu,lây chín giải thoát để tự làm anh lạc, đây đủmười lực không tánh vô hình, không thể nào cảntrở phá hoại được. Người nào nghe pháp đềuđược tin hiểu. Đó gọi là quả báo nơi tướng lưỡimiệng thanh tịnh của Đại Bồ-tát.Từ vô số a- tăng-kỳ kiếp, ta đạt được tướngâm vang biến khắp ba ngàn đại thiên quốc độ,lời nói nhẹ nhàng, hòa nhã, không thô bạo, xuấtngôn đều thành tựu, không do người khác dạybảo. Ai nghe âm vang ây đều vui vẻ. Trong âmvang này cũng có vô sô âm vang thanh tịnhđược nói ra, như pháp mà chư Như Lai thườngnói là mười hai nhân duyên: si, hành... sinh tử.Tự quán thân mình, quán thân người, quántrong ngoài thân, hơi thở dài cũng biết, hơi thởngăn cũng biết. Giáo hóa chúng sinh đạt đếnchứng đắc nhưng cũng không trụ vào chỗ chứngđắc. Âm vang ây phát ra tướng ánh sáng, môiảnh sáng đều có hóa Phật, mỗi hóa Phật đềungôi trên tòa cao bảy báu và giảng nói vô lượngpháp môn cho chúng sinh. Tâm đạt đến giảithoát không, vô tướng, vô nguyện. Quán rõ cácpháp đều vô sở hữu. Thường lây bốn việc từ, bị,hý, xả, bốn thiên, bốn đề, pháp môn chúng trí,pháp môn đắc tổng trì, pháp môn nhanh nhạy,pháp môn ứng thanh, pháp môn biện tài, vôlượng pháp môn luôn hiện tiền. Tâm thườnghiện bày diệu dụng nơi vô lượng trăm ngànTam-muội. Đó gọi là quả báo tướng âm vangcủa Đại Bồ- tát.Từ vô số a-tăng-kỳ kiếp, ta luôn tu tâmthanh tịnh, nhất tâm chánh niệm, biết hồ thẹn,giữ tâm một chỗ, không nghĩ đến một việc øìkhác, dòng tư tưởng không vướng mắc trần cấu.Nếu có người nào đến hủy nhục cũng không cótâm lo buôn. Giả sử được khen ngợi cũng khônglây làm vui, tâm không bao gIỜ chuyên đôi.Làm việc øì đều chắc chắn, giông như đất khólay động. Từ vô số kiếp từng phụng thờ chưPhật, giảng nói pháp vi diệu cho chúng sinh.Việc làm không dối trá, một lòng hướng về đạo.Nơi nào có Phật, Pháp, Tăng thì đích thân đếngiáo hóa, giảng nói, bàn luận vô lượng phápmôn tông trì. Những pháp bàn luận đó là nhữngbộ luận: Thí luận, Giới luận, sinh thiên, dục làbất tịnh, Niết-bàn là an lạc. Hướng dẫn chúnsinh nhập vào định, Tam-muội, phân biệt vêkhô đê đê la bỏ bôn trói buộc, diệt trừ pháp tập,NIẾT BÀN - BỘ3diệt hết đại phần kiết sử. Đạo là trừ những tạpUẾ, chứng,pháp. nhẫn Vô sinh, trụ vào Bất thoáichuyền, đặc quán thanh tịnh, biết tâm của chúngsinh nghĩ gì và tùy theo mỗi loại để khai thị,giáo hóa, đặc thành đạo quả, giống như tâm vảitrăng tinh mới sản xuất thì rât dễ nhuộm màu.Thường tự thâu giữ tầm, không chê trách khuyếtđiểm của người khác, thường thích nơi yên tĩnh,không ở chỗ ôn ào. Nhập vào chúng Ty-kheothì oai nghi đây đủ. Nếu nhập vào thiên định thìgăn chặt tâm ý vào ánh sáng. Kinh hành qua lạitâm không biếng nhác, ngã mạn. Ở trong đạichúng có tài hãng như sư tử hồng, phân biệtkhông tánh đều vô sở hữu. Đó là tâm thanh tịnhcủa Đại Bôồ- tát.Từ vô số a-tăng-kỳ kiếp, ta từng tu phápmôn tông trì không trở ngại, hư hoại. Nghe mộtđược trăm, nghe trăm đắc ngàn, nghe ngàn đặcvạn, nghĩa của từng câu từng chữ mà chư Phậtnói ra đêu năm lòng không quên mất. Đó là ĐạiBồ-tát thành tựu pháp môn tông trì.Từ vô số a-tăng-kỳ kiếp, ta thường tu tậpquán hành vô thường. Tất cả các pháp đều quyvê luật vô thường, có sinh thì có diệt. Ở đâu, nơinào cũng đều làm hưng thịnh chánh pháp đểtrang nghiêm thanh tịnh cõi Phật. Những gì nóira đều chân thật chắc chắn. Tự mình biết nhữngnơi từng sông trong đời trước, thuyết pháp giáohóa chúng sinh, tâm thức kiên cô, có thân thôngVÔ Úy không. thể nghĩ bàn. Từ vô số kiếp đãchứa nhóm các hạnh khô. Những thệ nguyện đãphát không bao giờ trái với bản hạnh. Hiện bàytiếp cận các pháp tự tại không nghĩ ngờ. Đó làĐại Bô-tát thành tựu pháp môn Tông trì.Từ vô số a-tăng-kỳ kiếp, ta từng tu Nhãnthần thông, biết hết tất cả các loài chúng sinhtrong mười phương: Hạng hợp với không hànhhay không hợp với không hành, hạng có tâmđịnh hay không có tâm định, hạng có tâm loạnhay không có tâm loạn, hạng có ý chí như kimcang hay không có ý chí như kim cang, hạng cóđịnh tư duy hay không có định tư duy. Cối trời,CỐI nĐƯỜI, CỐI nøạ quỷ, cõi súc sinh, cõi địangục, với thiên nhãn ta đều thây biết tất cả:Thấy chúng sinh này hướng đến Niễt-bàn Vô dưhay Niết-bản vô dư yy cũng biết chúng sinh nàyở trong thân trung âm chứng Niết-bàn, biếtchúng sinh kia hướng về Tu-đả-hoàn đắc quảTu-đà-hoàn, hướng về Tư-đả-hàm đắc quả Tư-đà-hàm, hướng vê A-na-hàm đặc quả A-na-hàm, hướng vê A-la-hán đắc quả A-la-hán,hướng về Phật-bích-chi đắc quả Phật-bích-chi.NIÉT BÀN - BỘ3Cũng quán chúng sinh xuất gia tu khổ hạnhkhông bỏ lời nguyện xưa, cạo bỏ râu tóc, thânđặp pháp phục nhập vào Tam-muội Sư tử du bộ,ở bên gôc cây Thọ vương tư duy quán, trải quamột ngày, hai ngày, cho đến bảy ngày; hoặcmột năm, hai năm, cho đến bảy năm; hoặc mộtkiếp, hai kiếp, cho đến bảy kiếp. Đó là Đại Bô-tát thành tựu Thiên nhãn thông.Từ vô số a- tăng-kỳ kiếp, ta từng tu Nhĩ thầnthông, nghe hết thảy quả báo của chúng sinhtrong mười phương: đen có quả báo đen, trắngcó quả báo trắng, không đen không trắng có quảbáo không đen không trắng, hữu lậu có quả báohữu lậu, vô lậu có quả báo vô lậu. Nghe âmvang thanh tịnh của chúng sinh â Ấy, tiếng khôngphải nam, tiêng không phải nữ, tiếng dịu dàngkhông phải nam không phải nữ, tiếng không dàikhông ngăn, không phải tiếng phi nhân, tiếngPhạm âm, tiếng thanh tịnh, tiêng hòa nhã củaCià-la-tỳ la, tiêng không thô, tiêng không tế.Lại dùng thiên nhĩ nghe chúng sinh ây trừ bỏtrần cấu, đoạn diệt các trói buộc, không trụ vàotướng quá khứ, hiện tại và vị lai. Trụ cũngkhông trụ, không trụ cũng không trụ. Ta khôngtrụ, không trụ cũng chăng phải không trụ, ngườithành Phật hay không thành Phật, người thànhđạo hay không thành đạo, người sinh thiên haykhông sinh thiên, người sinh làm người haykhông làm người, người sinh vào cõi ngạ quỷhay không sinh vào cối ngạ quỷ, người sinh vàocối địa ngục hay không sinh vào cõi địa ngục,người sinh vào cối súc sinh hay không sinh vàocõi súc sinh, phân biệt năm đường với thiên nhĩthông đêu nghe biết hết tật cả. Đó là Đại Bô-tátthành tựu Thiên nhĩ thông.Từ vô số a-tăng-kỳ kiếp, ta từng tu Tý thầnthông, ngửi hết thảy vô lượng mùi của chúngsinh trong mười phương: biết rõ ràng mùi thiệnmùi ác, mùi thô mùi tê, mùi trong mùi ngoài,mùi thê tục, mùi đạo cho đến mùi Bồ-tát ngôibên gốc cây Thọ vương, mùi giới, mùi định, mùituệ, mùi giải thoát, mùi giải thoát tr kiến, mùichỉ dạy chúng sinh với đại bi vô biên, mùithương xót chúng sinh, mùi vui vẻ địu dàng,mùi buông xả bao la, mùi thân thông vô úy, mùigiác lực căn bản, mùi phá mạn tự cao, mùi tựnhiên xông ướp tất cả, mùi trang nghiêm Phậtđạo, mùi hướng đến ba môn giải thoát, mùitướng thù thắng, mùi quả báo minh hạnh, mùiphân biệt vi trân, mùi ánh sáng chiêu xa, mùinhóm chúng hòa hợp, mùi năm tụ thanh tịnh,mùi trì nhập bất khởi, mùi diệt trừ các câu bản,NIẾT BÀN - BỘ3mùi quán diệt các cầu bần, mùi nghe giới bồ thí,mùi hồ thẹn không kiêu mạn, mùi thắng phápcủa tiên nhân, mùi nói pháp vô ngại, mùi xá-lợilưu hành khắp, mùi phong ân Phật tạng, mùi bảybáu vô tận.Bây giờ, Đức Thế Tôn nói kệ:Núi Ma-già xuất hiệnHoa hương và chiên-đảnTất cả hương ba cõiKhông bằng hương của giới.Hương giới diệt các cấuĐến đâu đêu hiện quánBồ-tát bất thoái chuyển HướngNiết-bàn bậc nhất.Vi như người bắn giỏiNgước băn lên hư khôngLực tên vút trên caoRồi rơi lại xuống đất.Đức hương xa cùng tậnKhông bao giờ trở lạiNay nói hương thânPhát Giới, định, tuệ, giải thoái.Qua ức ngàn vạn kiếpKhông sao hết hươngPhật Nếu qua ngàn vạn kiếpPhát khen công đực Phát.Đại Thánh không thể tậnThân Phát hương giới đứcPháp oal nghĩ chư PhátTrước thọ ký bổ xứ.Năm mùi thơm trong miệngTrên đến trời Đao-lợiTrở lại đến chỗ PhậtNhiêu thân Phật bảy vòng.Chư Thiên rải hoa hươngKhen ngợi chưa từng cóHương định tỏa rất xaCứu độ a-tăng-k.Khi Đức Thế Tôn nói kệ này xong, trong hộicó hai mươi na-do- tha chúng sinh tâm thứcđược khai ngộ và đều phát tâm: Nguyện muốnsinh về cõi Phật Hương Tích. Đó là Đại Bô-tátthành tựu Tỉ thông.Từ vô số a-tăng-kỳ kiếp, ta từng tu thầnthông về khẩu nghiệp, nói năng qua lại khôngbao giờ ngưng trệ giữa chừng. Tât cả môi lờinói nói ra đều có ánh sáng: Môi có ánh sáng củamôi, răng có ánh sáng của răng, lưỡi có ánhsáng của lưỡi. CGIữa đại chúng, Như Lai giảngnói pháp thâm diệu, tất cả pháp ấy đồng một tênlà A. A là vô. Vô có ngàn vạn nghĩa, trong ngànvạn nghĩa lây một nghĩa. Vô, nghĩa là độ vôNIẾT BÀN - BỘ3lượng chúng sinh.Hai tên là La. La là trừ câu. Trừ cầu có ngànvạn nghĩa. Trong ngàn vạn nghĩa lây một nghĩatrừ câu, nghĩa là trừ cấu uê cho vô lượng chúngsinh.Ba là Ba giá. Ba giá còn tên là Quả thục.Quả thục có ngàn vạn nghĩa, lây một nghĩa Quảthục, tức khiến cho vô lượng chúng sinh đềuđắc quả thành thục.Bốn tên là Na. Na là nghĩa phi thường.Nghĩa phi thường có ngàn vạn nghĩa. Trongngàn vạn nghĩa lây một nghĩa phi thường, tứckhiến cho họ vô lượng chúng sinh đều hiểu rõkhông có thường.Năm tên là Trà. Trà là vô tận. Nói về vô tậnnghĩa là nói có thì không CÓ, nói không thì cũngkhông không. Nghĩa vô tận có ngàn vạn nghĩa.Trong ngàn vạn nghĩa lây một nghĩa vô tận, tứckhiến cho chúng sinh được hiểu rõ sự cùng tận.Đó là nghĩa tận của Trà.Vô lượng Hằng hà sa chư Phật trong mườiphương về oai nghĩ thọ thực thì dưới từ Diêm-phù-đề trên đến mười tám cõi trời đêu thây NhưLai thọ thực. Bồ-tát từ Nhất trụ đến Tứ trụ thấyvêt hâu lưu ly của thân Như Lai. Bô-tát bâtthoái chuyển cho đến cửu địa thây trời Kiện Tậtdâng thức ăn cho Như Lai, rôi đến phương khácthi hành Phật sự. Đó là quả báo về khâu thânthông của Như Lai. Như Lai hiện tại có ăn mùiVỊ này đến mùi vị khác nhưng mùi vị bất động,không nuốt không nhai. Khi Thế Tôn đưa bánhvào miệng thì nghĩ nhớ đến chúng sinh trongmười phương đêu cũng có mùi vị này. Theo sựnhớ nghĩ đó mà tất cả đều được no đủ, giốngnhư Tỳ-kheo đắc chín thứ thiên, tâm nhu hòadịu dàng, luôn thây no ngon. Đó là Đại Bô-tátvới khâu thông thanh tịnh.Xưa kia trải qua vô số a-tăng- kỳ kiếp, tatừng tu thân thân thông, phân biệt rõ ràng trongthân tưởng tịnh hay bât tịnh, tưởng bất tịnh haytịnh, ba mươi sáu thứ câu uê tiết ra ngoài khôngthật. Tóc, móng tay, răng, xương, máu, nướcmắt, tư duy xuôi ngược, đem pháp thân củamình quán thân chúng sinh cũng như vậy. Tựhóa thân của mình sình trướng lên, hôi thối nátrữa, máu mủ chảy ra. Hoặc hiện thân với xươngtrắng màu tro, màu xanh ứ bằm, màu đen điugiông như màu đất. Thây thân này, vô lượngchúng sinh đều sinh suy nghĩ tưởng đến vôthường, khổ, không, vô ngã. Hoặc giảng nóipháp nghiệp báo của thân cho chúng sinh:“Thân này chăng phải là thân, vậy thì cái gì làNIÉT BÀN - BỘ3thân? Mỗi mỗi phân biệt rõ ràng từ đầu xuốngchân đều vô sở hữu. Do không có thân nênkhông có thức”. Nghe điều này, chúng sinh suynghĩ tư duy về thân ô uê bất tịnh, giông như cõitrời Quang Âm thanh tịnh quán xuông đến sự ôuế hôi thôi trong cõi Diêm-phù- đề. Mùi hôi thôixông lên đến cả bảy ngàn vạn dặm. Vì thế Bồ-tát không sinh lên cõi trời Quang Âm. Với thânthần thông, Bồ-tát nhập vào Tam-muội Kmcang, nghiên nát thân như bụi trần, mỗi hạt bụiđêu là một hóa Phật, cứu vớt vô lượng a-tăng-kỳ loài chúng sinh mà hiện tướng sắc thân. Trênthân ra lửa, dưới thân ra nước; dưới thân ra lửa,trên thân ra nước. Phía Đông nối lên, phía Tâychìm xuống. Phía Tây nỗi lên, phía Đông chìmxuống. Hiện mười tám loại thần biên, Như Lailàm cho các chúng sinh đều thấy Như Lai biếnhóa và ngay lúc â ây tật cả đều giác ngộ, đoạn trừsạch các kiết sử và nhập vào đạo vô vi. Mỗi hạtbụi hóa ra Phật, hiện thân để giáo hóa, cứu độvô lượng a-tăng-kỳ chúng sinh. Đó là thân NhưLai giáo hóa mật kín nhưng không nói pháp.Từ vô sô a- táng- -kỳ kiếp, ta từng tu tập ýthức, thành tựu thần thông của Bồ-tát, thâu giữtâm nhập định, dạo đến vô lượng cõi Phật,giống như lực sĩ co duỗi cánh tay, trong khoảnhkhắc đã về lại chỗ cũ. Ý thức của Bô-tát cũngnhập vào hóa sinh, thai sinh, thập sinh và noãnsinh, hiện ra thần biến không thể nghĩ bàn đểgiáo hóa, lập tức ngay chỗ đó thành đạo vô vI.Đôi với các thần thông, l thức Bồ-tát rất tốithượng, chăng phải điều mà Phật-bích-chi, A-la-hán suy nghĩ, luận bàn. Vì sao? Vì chăng phải làcảnh giới của họ.

Phẩm 5: TAM THẺ ĐĂNG

Khi ây, trong pháp hội có một vị Bồ-tát tênHý Kiến, với biện tài vô ngại, bước vào Thậptrụ. Những sì Như Lai hành, vị ấy đều nắmvững. Bỏ- tát ây đứng dậy, rời khỏi tòa, trịch bàyvai phải, gối phải quỳ sát đất, chấp tay đếntrước Phật, thưa:-Lành thay! Bạch Thế Tôn! Hôm nay connghe pháp thật chưa từng có này. Vậy vô SỐHăng hà sa Như Lai ở quá khứ có nhập Niết-bàn hay không nhập Niết-bản? Nếu nhập Niết-bàn thì chúng sinh ở cõi Dục làm sao được độ?Nếu Như Lai không nhập Niết-bàn thì chư NhưLai ấy trụ vào cảnh giới Phật nào?Phật bảo Bô-tát Hỷ Kiến:NIÉT BÀN - BỘ3-Lành thay! Lành thay! Ông. có khả năng ởtrước Như Lai gầm lên tiếng gầm sư tử. Ônghãy nghe thật kỹ, suy nghĩ đúng đắn điều ấy.Nay Ta sẽ phân biệt rõ ràng từng chỉ tiết choông.Bồ-tát Hÿ. Kiến thưa:-Bạch Thê Tôn! Con rất thíchđược nghe. Đức Phật dạy:-Hãng hà sa chư Phật Thế Tôn trong quákhứ với giả danh gọi, không thể ghi nhớ hết,cũng như chúng sinh được đời đời không diệtmất, vô biên, không có biên vực, cũng không cóđâu mối. Chư Phật chú trọng tập trung, tâm nhưkhông giới. Niết-bàn tức là chúng sinh, cho nênNhư Lai không nhập Niết-bàn. Vì sao? Vì làchúng sinh.Bô-tát Hỷ Kiến bạch Phật:-Chúng sinh mà Đức Thê Tôn ở quá khứ đãđộ có diệt độ hay không diệt độ?Phật bảo Bô-tát Hỷ Kiến:-Thế nào, này Bôồ-tát Hỷ Kiến! Từ vô số a-tăng-kỳ kiếp ông luôn phụng thờ chư Phật, lễlạy cúng dường hương hoa, cờ phướn, lọng báu,ông có thây Như Lai thủ Bát-niêt-bàn không?Bô-tát Hý Kiên thưa:—Thưakhông! ĐứcPhật dạy:-Này Bồ-tát Hỷ Kiên! Ta hiệu là Thích CaVăn Vô Thượng Bồ Đề. Nay ở trong thai mẹ làNiết- bàn hay chăng phải Niêt-bàn?Bồ-tát Hỷ. Kiên thưa:-Bạch Thê Tôn!Chăng phải. Đức ThêTôn dạy:-Này Bồ-tát Hỷ Kiến! Chúng sinh, Bô-tátđược thọ ký sẽ thành đạo Chánh chân vôthượng, là đạo chân thật hay chắng phải chânthật?Bồ-tát Hÿ Kiên thưa:Đạo ấy chắng phải đạo chân thật. Vì sao?Vì có Phật, có nói pháp thì thây giáo hóa chúngsinh, cho nên đạo ấy chăng phải đạo chân thật.Duyên vào duyên chúng sinh là đạo, duyênvào duyên tận cùng chúng sinh là đạo chân thật.Duyên. quá khứ duyên vào tận cùng chúngsinh đôi với hiện tại chăng phải đạo chân thật.Duyên hiện tại duyên vào tận cùng chúngsinh đôi với quá khứ chắng phải đạo chân thật.Duyên quá khứ, hiện tại duyên vào tận cùngchúng sinh đối với vị lai chắng phải đạo chânthật.NIÉT BÀN - BỘ3Duyên vỊ lai duyên vào tận cùng chúng sinhđối với quá khứ, hiện tại chẳng phải đạo chânthật. Vì sao? Vì đạo ấy chăng phải đạo chânthật.Duyên quá khứ duyên vào tận cùng chúngsinh, duyên hiện tại duyên vào tận cùng chúngsinh, duyên vị lai duyên vào tận cùng chúngsinh, đạo ây là đạo chân thật.Đại Bô-tát biết và thấy điều đó nhưng khôngnơi nào là không có mặt. Vì sao? Giông nhưchín hành bất tận. Chín hành ấy là:Thượng thượng, thượngtrung, thượng hạ. Trungthượng, trung trung, trung hạ.Hạ thượng, hạ trung, hạ hạ.Duyên thượng thượng tận, duyên thượngthượng trung bắt tận thì chăng phải là đạo chânthật.Duyên thượng trung tận, duyên thượng hạbất tận, chăng phải đạo chân thật.Duyên thượng hạ tận, duyên trung thượngbất tận, chẳng phải đạo chân thật.Duyên trung thượng tận, duyên trung trungbất tận, chẳng phải đạo chân thật.Duyên trung trung tận, duyên trung hạ bấttận, chắng phải đạo chân thật.Duyên trung hạ tận, duyên hạ thượng bấttận, chăng phải đạo chân thật.Duyên hạ thượng tận, duyên hạ trung bấttận, chăng phải là đạo chân thật.Duyên hạ trung tận, duyên hạ hạ bắt tận,chắng phải đạo chân thật.Duyên hạ hạ tận là đạo chân thật.Đôi với tánh chân thật, Đại Bô-tát khôngnăm bắt, không buông xả, không trụ, chăng phảilà không trụ.Quá khứ, hiện tại và vị lai như nhau, đạonhư nhau, Niết-bàn như nhau, tất cả đều nhưnhau, không có hai pháp.Tánh như nhau, tướng tự nhiên như nhau,chúng sinh như nhau, câu như nhau, năm âmnhư nhau, duyên như nhau, sĩ hành như nhau,đạo hạnh thanh tịnh không một, không haiI.Hành duyên cõi Dục tận, chắng phải hànhduyên cõi Sắc tận. Hành duyên cõi Sắc tận,chăng phải hành duyên cõi Vô sắc tận. Hànhduyên cõi Vô sắc tận, hành duyên cõi Sắc tận,hành duyên cõi Dục tận, đó gọi là Bỏ-tát nhưnhau, chăng phải một, chăng phải hai.Bấy giờ, Đức Phật bảo Bỏ-tát Hý Kiên:-Ông có muốn biết cõi chư Phật quá khứdiệt hay không diệt không?NIẾT BÀN - BỘ3Thế rồi Thế Tôn dùng thân lực nhập vàoTam-muội Vô úy không giới, khiến cho tất cảmọi người đều thây rõ thân Thích Ca Văn imlặng không nói, với thân tướng đây đủ.Đức Thế Tôn bảo:-Bô-tát nên biết! Thân quá khử của Ta rấtnhiêu, không thê tính, không thể lường.Nói XONE, Thế Tôn dùng thân thông hòa vàocảnh giới thập sinh đây đủ với các tướng, y nhưchúng và nói pháp cho vô số a-tăng-kỳ chúngsinh, khiến loài thấp sinh tùy theo sở nguyệnđều được giải thoát.Thế Tôn lại dùng thân thông hòa vào chúnghóa sinh, hiện tướng sắc thân y như chúng vànói pháp cho vô số a-tăng-kỳ chúng sinh, khiếncho loài hóa sinh tùy theo sở nguyện đều đượcgiải thoát.Thế Tôn lại dùng thân thông hòa vào chúngnoãn sinh, hiện tướng sắc thân y như vậy, nóipháp cho vô sô a-tăng-kỳ chúng sinh, khiên choloài noãn sinh tùy theo sở nguyện đều được giảithoát.Thế Tôn lại dùng thân thông hiện thế giớiđương lai, hòa vào bốn sinh của cõi người, hiệntướng sắc thân nói pháp cho vô số a-tăng-kỳchúng sinh, khiến chúng sinh bốn sinh ấy tùytheo sở nguyện đều được giải thoát.Giông như ngảy nay Ta ở trong thai mẹ nóipháp Bất thoái chuyển khó có cho các Bồ-tátđạt thân thông trong mười phương và lại dùngthần thông bốn sinh của cõi trời, bỗn sinh củađịa ngục, bốn sinh của nøgạ quỷ, bốn sinh củasúc sinh. Trong bốn sinh thì hai loại hóa và thailậu dứt hết mau, còn hai loại thấp và noãn thìlậu dứt hết chậm. Hóa sinh và thai sinh là hànglợi căn, còn thập sinh và noãn sinh là hạng độncăn.Bây giờ, Đức Thế Tôn lại dùng thân thônghiện cảnh giới tịch tĩnh để đại chúng ây đềuthây biết, cũng không nói tên của khô, tập, diệt,đạo. Vì sao? Vì chúng sinh nơi cõi đó đều làhạng lợi căn, thuộc thai sinh và hóa sinh.Phật lại dùng thân thông hiện thê ĐIỚI HƠIphương dưới, chiều sáng thấy chúng sinh ây giữgìn đọc tụng, trải qua. kiếp sô mới thành đạo quảvà biết chúng sinh thập và noãn này là hạng độncăn.Phật lại dùng thân thông hiện cõi bất tử đểđại chúng biết chúng sinh kia không nghe tênchết. Biết chúng sinh này có đại bi thệ nguyện,là hạng căn tôi thắng trong hạng lợi căn.Phật dùng thần thông hiện cõi chết yêu đểNIÉT BÀN - BỘ3đại chúng đều thấy biết. Thây chúng, sinh â ây cóngười chết yêu vì họ tự tạo gôc khô, vốn tuổithọ xưa kia rất dài, nay tuôi chuyền lại ngắn.Vua cõi ây tên Trừ Ưu, lột da người chết để làmtrồng, một trăm năm đánh một lần để chúngsinh ấy đều biết tên chết, tuôi thọ giảm dân cònmột trăm tuổi thì Ta xuất hiện. Nay Ta xả bỏthọ mạng hơn tám mươi bốn tuổi, ra khỏi thaisinh, hóa sinh trong đời năm trược, đó là phânlợi căn của Ta.Các ông nên biết, mạng sông không tôn tạilâu dài, thân lực của Phật không thể lưu lạiđược. Thân này như bong bóng nước, không trụlâu. Thân như sương móc, thường làm loạn tưtưởng con người. Thân như mộng, làm tăngthêm sân giận. Thân như huyễn, lừa gạt mêhoặc người đời. Thân như tiêng vọng, tìm kiếmnhưng vô hình. Thân như mắt quáng thấy khôngrõ. Như vậy, thân Ta đây là lần diệt tận cuốicùng, không còn sinh lại nữa.Bất sinh là gì? Là không sinh vào cõi Diêm-phù-đề này nữa. Lại khi hành Phật sự ở ba mươihai vạn vạn cõi Phật khắp mười phương, đâychắng phải ở quá khứ. Do đó, duyên vào duyêntận, duyên vào duyên bất tận thì không có Niết-bàn.Bây giờ, Đại Bô-tát Di-lặc liên đứng dậy,sửa pháp phục, trịch bày vai phải, gỗi phải quỳsát đất, bạch Phật:—Ky diệu thay, bạch Thế Tôn! Tất cả chúngsinh trong thê giới không giông nhau. Quả báocủa việc làm thiện, ác đều khác nhau. Vậy, NhưLai nói pháp không, không tịch mịch, không thểnghĩ bàn thì nhập vào Tam-muội nào mà có oalthân cảm động khó lường như vậy?Chúng sinh có thức đêu có thê dễ giáo hóa,còn như núi, sông, tường, đá, cây, cỏ đều biếnlàm người thì chúng sinh có thức hay chúngsinh không có thức?Phật bảo Bô-tát Di-lặc:Xưa kia Ta cùng ông Dăng qua sông núi,ông có thây một con thú dữ muôn ăn thịt vị Bồ-tát Thập Trụ không?Bồ-tát Di-lặc thưa:-Bạch Thế Tôn! Không. Vì sao? Giả sử thúdữ đây khắp ba ngàn đại thiên thê giới muôn ănthịt vị Bô-tát thì điều đó không thể được.Đức Phật dạy:Xưa kia Ta khuyên ông: AI có khả năngtiên lên trước? Ông và Bô-tát Văn-thù đều nóikhông có can đảm. Ngay khi ây Ta dùng thânlực lầy vị cam lô bảo thú đói kia biệt: “Nêu giữNIẾT BÀN - BỘ3tâm kiên cố thì được thành tựu đạo quả Vôthượng Chánh đăng Chánh giác ”. Ông nói rôilui dân ra phía sau. Như vậy tất cả đều là loàigiáo hóa có thức, chứ chắng phải giáo hóa vôthức.Phật bảo Bô-tát Di-lặc:-Ông chăng nhớ vô số a- tăng- -kỳ kiếp xaxưa, cách vê phương Tây bắc này sáu mươi haihằng hà sa cõi, có Phật hiệu là Bình Đẳng, nướctên Vô Hình. Phật ấy hiện đang thuyết pháp.Cõi đó không có Phật-bích-chi, Thanh văn thừa;không có mặt trời, mặt trăng, thời tiết, kiệp sỐnhiêu ít. Phật ấy giáo hóa hết một cõi Phật.Chúng sinh cõi đó đều được thành Phật vàkhông dời đổi qua ở thế giới Phật khác. NàyBỏ-tát Di-lặc! Có thê gọi Phật ây là quá khứ,hiện tại, vị lai không?Bỏ-tát Di-lặc bạch:-Bạch Thê Tôn! Vừa quá khứ, hiện tại và vịlai. Vì sao? Vì tất cả đều từ các cõi đi đến cõiđó. Các duyên tận thì chúng sinh tận. Vì đượcđộ thoát nên hiện có hiện tại.Phật bảo Bồ-tát Di-lặc:-Hiện ông ở hiện tạichăng? Bô-tát Di-lặcthưa:-Bạch Thế Tôn! Không phải. Mặc dù nóihành hiện tại nhưng không phải hiện tại, vì hànhtrước đã qua và hành sau thì chưa đến. Thứcniệm tư duy ba việc thành tựu cho nên không cóhiện tại.Phật liên hỏi Bồ-tát Di-lặc:—Tâm có bao nhiêu niệm? Mỗi niệm âycó bao nhiêu tưởng? Bô-tát Di-lặc thưa:-Khoảng bằng khảy móng tay thì có bamươi hai ức trăm ngàn niệm. Niệm niệm thànhhình, mỗi hình đều có thức. Niệm của thức rấtvi tẾ, không thể nào năm giữ được, chỉ có oalthân của Phật nhập vào thức vi trần đó mới đolường được. Như vậy giáo hóa có thức chứchắng phải vô thức. Lại nữa, thức rất nhỏ, nhỏhơn bụi trần. Thức bụi trần này không thê thâyđược, chỉ có oai thần của Như Lai nhập vào sựgiáo hóa ấy thì mới lường xét được.Đức Phật dạy:-Bỏ-tát Di-lặc nên biết, đừng có hồ nghiđiều đó. Thức vi trần này cũng nhận bốn khí,cũng có bốn sinh. Vì sao? Vì chúng sinh vôbiên, mà biên cũng vô biên. Như Lai cũng vôbiên, đạo cũng vô biên. Tất cả nói hữu, hữucũng vô hữu. Vô giới, vô xứ, vô trụ cũng đềukhông có người dạy bảo, giáo hóa chúng sinh.NIÉT BÀN - BỘ3Đây gọi là nghịch thuận Tam-muội. Không trụ,không phải không trụ, một tướng, vô tướng.Không vướng mắc, không trói buộc, cũngkhông có chân tế, tu tập nơi đạo tràng, làmthanh tịnh cõi Phật, quyên biến vô số chăngphải những điều mà kẻ thấp kém sánh KỊP.Bây giờ, Đức Thế Tôn muốn giải thích sựhồ nghi cho Bô-tát Di- lặc nên iên hiện sắc thânmêm mại đẹp để, với sắc nhìn không nhàmchán, sắc trong ngoài thanh tịnh không tỳ vết.Từ vô sô a-tăng- -kỳ kiếp, Ta từng tu nhãnthanh tịnh, trong ngoài không bị chướng ngạinên nay được sắc thân này: Thân không phảithân, sắc cũng không phải sắc.Nếu biết thân không, sắc không, thì thân -sắc đều không. Biết thân - sắc đều không thìkhông này là không không.Biết vÔ, thân không, vô sắc không, thì biết vôthân - vô sắc đều không. Ai biết vô thân - vô sắcđều không thì không này là không không.Biết thân quá khứ không, biết sắc quá khứkhông, thì biết thân - săc quá khứ đều không. Aibiết thân - sắc quá khứ đều không thì không nàylà không không.Biết thân hiện tại không, biết sắc hiện tạikhông, thì biết thân - sắc hiện tại đều không. Aibiết thân - sắc hiện tại đều không thì không nàylà không không.Biết thân vị lai không, biết sắc vị lai không,thì biết thân - sắc vị lai đều không. Ai biết thân

săc vị lai đều không thì không này là không

không.Biết vô thân quá khứ không, biết vô sắc quákhứ không, thì biết vô thân vô sắc quá khứ đềukhông. Ai biết vô thân vô sắc quá khứ đềukhông thì không này là không không.Biết vô thân hiện tại không, biết vÔ sắc hiệntại không, thì biết vô thân vô sắc hiện tại đềukhông. AI biết vô thân vô sắc hiện tại đềukhông thì không này là không không.Biết vô thân vị lai không, biết vô sắc vị laikhông, thì biết vô thân vô sắc vị lai đêu không.Ai biết vô thân vô săc vị lai đều không thìkhông này là không không.Biết thân dục giới không, biết sắc dục ĐIỚIkhông, thì biết thân dục BIỚI, sắc dục giIỚI đềukhông. Ai biết thân dục giới, sắc dục giới đềukhông thì không này là không không.Biết thân sắc giới không, biết sắc sắc gIỚIkhông, thì biết thân sặc BIỚI, sắc sắc gIỚI đềukhông. Ai biết thân sắc giới, sắc sắc giới đềukhông thì không này là không không.NIẾT BÀN - BỘ3Biết thân vô sắc giới không, biết sắc vô sắcgIỚI không, thì biết thân vô sắc ĐIỚI, sắc vô sắcĐIỚI đều không. AI biết thân vô sắc giới, sắc vôsắc giới đều không thì không này là khôngkhông.Biết vô thân dục giới không, biết vô sắc dụcgiới không, thì biết vô thân dục giới, vô sắc dụcgiới đều không. Ai biết vô thân dục giới, vô sắcdục giới đêu không thì không này là khôngkhông.Biết vô thân sắc giới không, biết vô sắc sắcgiới không, thì biết vô thân sắc ĐIỚI, VÔ sắc sắcgiới đều không. Ai biết vô thân sắc giới, vô sắcsắc giới đều không thì không này là khôngkhông.Biết vô thân vô sắc giới không, biết. vô sắcvõ sắc giới, không, thì biết vô thân vô sắc giới,vô sắc vô sắc ĐIỚI đêu không. Ai biết vô thân vôsắc giới, vô sắc vô sắc giới đêu không thì khôngnày là không không.Biết thân duyên duyên không, biết sắcduyên duyên không, thì biết thân — sắc duyênduyên đêu không. Ai biết thân — sắc duyênduyên đều không thì không này là không không.Biêt vô thân duyên duyên không, biệt vô sắcduyên duyên không, thì biết vô thân vô sắcduyên duyên đều không. Ai biết vô thân vô sắcduyên duyên đêu không thì không này là khôngkhông.Biết thân thai sinh không, biết sắc thai sinhkhông, thì biết thân thai sinh, sắc thai sinh đềukhông. Ai biết thân thai sinh, sắc thai sinh đềukhông thì không này là không không.Biết vô thân thai sinh không, biết vô sắc thaisinh không, thì biết vô thân thai sinh, vô sắc thaisinh đêu không. AI biết vô thân thai sinh, vô sắcthai sinh đều không thì không này là khôngkhông.Biết thân hóa sinh không, biết sắc hóa sinhkhông, thì biết thân hóa sinh, sắc hóa sinh đềukhông. Ai biết thân hóa sinh, sắc hóa sinh đềukhông thì không này là không không.Biết vô thân hóa sinh không, biệt vô sắc hóasinh không, thì biết vô thân hóa sinh, vô sắc hóasinh đều không. AI biết vô thân hóa sinh, vô sắchóa sinh đêu không thì không này là khôngkhông.Biết thân thập sinh không, biết sắc thấp sinhkhông, thì biết thân thập sinh, sắc thập sinh đềukhông. Ai biết thân thấp sinh, sắc thập sinh đềukhông thì không này là không không.Biết vô thân thấp sinh không, biết vô sắcNIÉT BÀN - BỘ3thâp sinh không, thì biết vô thân thấp sinh, vôsắc thấp sinh đêu không. Ai biết vô thân thấpsinh, vô sắc thấp sinh đêu không thì không nàylà không không.Biết thân noãn sinh không, biết sắc noãnsinh không, thì biết thân noãn sinh, sắc noãnsinh đều không. Ai biết thân noãn sinh, sắcnoãn sinh đều không thì không này là khôngkhông.Biết vô thân noãn sinh không, biết vô sắcnoãn sinh không, thì biết vô thân noãn sinh, vôsắc noãn sinh đêu không. Ai biết vô thân noãnsinh, vô sắc noãn sinh đêu không thì không nàylà không không.Biết thân vị chí định là không, biết sắc vị chíđịnh không, thì biết thân vị chí định, sắc vị chíđịnh đều không. Ai biết thân vị chí định, sắc vịchí định đêu không thì không này là khôngkhông.Biết vô thân vị chí định là không, biết vô sắcvị chí định không,thì biết vô thân vị chí định, vô sắc vị chí địnhđều không. Ai biết vô thân vị chí định, vô sắc vịchí định đều không thì không này là khôngkhông.Biết thân Sơ thiên không, biết sắc Sơ thiềnkhông, thì biết thân Sơ thiên, sắc Sơ thiền đềukhông. Ai biết thân Sơ thiền, sắc Sơ thiền đềukhông thì không này là không không.Biết vô thân SƠ thiên không, biết vô sắc Sơthiên không, thì biết vô thân Sơ thiên, vô sắc Sơthiền đêu không. Ai biết vô thân Sơ thiền, vôsắc Sơ thiên đều không thì không này là khôngkhông.Biết thân trung gian thiền không, biết sắctrung gian thiên không, thì biết thân trung gianthiền, sắc trung gian thiên đều không. Ai biếtthân trung gian thiên, sắc trung gian thiên đêukhông thì không này là không không.Biết vô thân trung gian thiên không, biết vôsắc trung gian thiên không, thì biết vô thântrung gian thiên, vô sắc trung gian thiên đềukhông. Ai biết vô thân trung gian thiên, vô sắctrung gian thiên đều không thì không này làkhông không.Biết thân Nhị thiên không, biết sắc Nhị thiềnkhông, thì biết thân Nhị thiên, sắc Nhị thiên đềukhông. Ai biết thân Nhị thiên, sắc Nhị thiên đềukhông thì không này là không không.Biết vô thân Nhị thiên không, biết vô sắcNhị thiền không, thì biết vô thân Nhị thiền, vôsắc Nhị thiền đêu không. Ai biết vô thân NhịNIẾT BÀN - BỘ3thiên, vô săc Nhị thiên đều không thì không nàylà không không.Biết thân Tam thiền không, biết sắc Tamthiên không, thì biết thân Tam thiên, sắc Tamthiền đều không. AI biết thân Tam thiên, sắcTam thiên đều không thì không này là khôngkhông.Biết vô thân Tam thiên không, biết vô sắcTam thiên không, thì biết vô thân Tam thiên, vôsắc Tam thiền đều không. AI biết vô thân Tamthiền, vô sắc Tam thiên đêu không thì khôngnày là không không. Biết thân Tứ thiên không,biết sắc Tứ thiên không, thì biết thânTứ thiên, sắc Tứ thiền đều không. Ai biết thânTứ thiên, sắc Tứ thiền đều không thì không nàylà không không.Biết vô thân Tứ thiền không, biết vô sắc Tứthiên không, thì biết vô thân Tứ thiên, vô sắc Tứthiền đều không. Ai biết vô thân Tứ thiên, vôsắc Tứ thiền đều không thì không này là khôngkhông.Biết thân Không xứ không, biết sắc Khôngxứ không, thì biết thân Không xứ, sắc Không xứđều không. Ai biết thân Không xứ, sắc Khôngxứ đêu không thì không này là không không.Biết vô thân Không xứ không, biết vô sắcKhông xứ không, thì biết vô thân Không xứ, vôsắc Không xứ đêu không. Ai biết vô thânKhông xứ, vô sắc Không xứ đêu không thìkhông này là không không.Biết thân Thức xứ không, biết sắc Thức xứkhông, thì biết thân Thức xứ, sắc Thức xứ đềukhông. Ai biết thân Thức xứ, sắc Thức xứ đềukhông thì không này là không không.Biết vô thân Thức xứ không, biết vô sắcThức xứ không, thì biết vô thân Thức xứ, vô sắcThức xứ đều không. Ai biết vô thân Thức xứ,vô sắc Thức xứ đều không thì không này làkhông không.Biết thân Bất dụng xử không, biết sắc Bấtdụng xứ không, thì biết thân Bất dụng xứ, sắcBất dụng xứ đêu không. Ai biết thân Bất dụngxứ, sắc Bất dụng xứ đêu không thì không này làkhông không.Biết vô thân Bất dụng xứ không, biết vÔ sắcBất dụng xử không, thì biết vô thân Bất dụngxứ, vô sắc Bất dụng xứ đều không. Ai biết vôthân Bất dụng xứ, vô sắc Bất dụng xứ đềukhông thì không này là không không.Biết thân Phi tưởng phi bất tưởng xứ không,biết sắc Phi tưởng phi bất tưởng xứ không, thìbiết thân Phi tưởng phi bất tưởng xứ, sắc PhiNIẾT BÀN - BỘ3tưởng phi bất tưởng Xứ đều không. Ai biết thânPhi tưởng phi bất tưởng xứ, sắc Phi tưởng phibất tưởng xứ đều không thì không này là khôngkhông.Biết vô thân Phi tưởng phi bất tưởng xứkhông, biết vô sắc Phi tưởng phi bất tưởng xứkhông, thì biết thân Phi tưởng phi bất tưởng xứ,vô sắc Phi tưởng phi bất tưởng xứ đều không.Ai biết vô thân Phi tưởng phi bất tưởng xứ, vôsắc Phi tưởng phi bất tưởng xứ đều không thìkhông này là không không.Phật bảo Bô-tát Di-lặc:—Nay Ta sẽ giảng nói cho ông về nghĩa phátsinh và nghĩa căn bản. Ông hãy lắng nghe chorõ, suy nghĩ thật kỹ.Sinh nghĩa là gì? Sinh là bảy chín. Căn là nghĩaliên kết lại. Như Lai không chấp trước dĩ tri, vịtr1, VÔ {TI.Dĩ tri căn là quá khứ, hiện tại, vị la1.VỊ tri căn là sự chướng ngại của kiết sử.Vô tri căn là Như Lai Chí Chân Đăng ChánhGIác.Chư Phật quá khứ, hiện tại, vị lai thành tựucăn này và phân biệt các căn. Vô căn cũngkhông phải vô căn, vô thuyết, vô nghĩa. Phânbiệt các nghĩa của chữ là không, không sở hữu.Đó là nghĩa căn.Từ lúc mới phát tâm cho đến ngôi bên gốccây Thọ vương chuyển pháp luân vô thượng,nhóm tập các pháp môn, hành pháp môn vôhành, pháp môn tư nghì, pháp môn tông trì căn,pháp môn hư không pháp tàng. Đây là nhữngTam-muội mà chư Phật thâu nhập.Bô-tát Di-lặc nên biết! Ta thọ ký cho ôngnăm mươi sáu ức bảy ngàn vạn năm sau sẽthành tựu đạo quả Vô thượng Chánh đăngChánh giác bên gôc cây Thọ vương.Ta sinh từ hông phải, còn Bỏ-tát Di-lặc thìsinh từ đỉnh đâu.Ta sống một trăm tuổi, Bô-tát Di-lặc sốngtám vạn bốn ngàn tuổi. Cõi của Ta băng đất,CỐI của Bồ-tát Di-lặc bằng vàng.Đật nước của Ta thì khô, còn đất nước củaBô-tát Di-lặc thì vui. Khi ấy, Đức Thế Tônliên nói kệ:Đảng Như Lai Thập LựcHư không không biên giớiNghiệp lực phước nhân tuệSức thể nguyễn tồi thăng.Ông sinh nước an lạcKhông khô như cõi TaÔng nói pháp rất dễNIÉT BÀN - BỘ3Ta nói pháp rất khó.Đầu: nói chín mươi sáuHai: nói chín mươi bốnBa: nói chín mươi haiĐầu: Ta nói mười hai.Hai: nói hai mươi bốnBa: nói ba mươi sáuBa hội người ông dạyTa đã giáo hóa trước.Cha ông: Phạm Ma TịnhTám vạn bốn ngàn tướngChăng phải Ta dạy trướcNhững người ông hóa độ.Chín mươi sáu tc ngườiThọ năm giới của TaChín mươi bốn ức ngườiThọ trì ba quy y.Chín mươi hai C ngườiChỉ xưng: “Nam-mô Phát”Trước nói: ngàn Tỳ-kheoHai mươi bốn tức trời.Ba: ba mươi sảu ứcCác chúng sinh diệt độÔng vui, Ta khổ cựcÔng lười, Ta tỉnh tấn.Khi Phật đang nói kệ này, có bảy mươi haiức chúng sinh khô hạnh ngôi yên bất động, đặcpháp nhân Bât khởi (pháp nhân Vô sinh).
Nguồn bản dịch: Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh (Internet Archive OCR)Giấy phép: Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh (Việt dịch) · OCR Internet Archive · nguồn: archive.org · EN quarantined by Codex on 2026-07-06: previous bodyEn was short INTI-AI quote-widget noise, not a source English body. · EN: AI translation by Codex from Vietnamese source, awaiting source English🪷 Hỏi Inti Sage về kinh này →

Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch do AI (Inti Sage) thực hiện: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.

🕯️ Thắp nến