Đại Thừa Trang Nghiêm Kinh Luận quyển 13
Tên chữ Hán:大乘莊嚴經論
Lưu tiến độ đọc kinh
Tạo tài khoản miễn phí để lưu bài kinh, đánh dấu tiến độ và tiếp tục lộ trình học mỗi ngày.
Phẩm Hai Mươi Ba
HÀNH TRÚ
Giải thích:
Đã nói công đức của Bồ tát, kế nói năm sắc thái Bồ tát.
[0656c18] Kệ tụng:
Nội tâm có lân mẫn
Ái ngữ và dũng kiện
Khai thủ và thích nghĩa
Năm sắc thái Bồ tát.
Giải thích:
Bồ tát có năm sắc thái: 1. Thương xót; 2. Lời nói từ ái; 3. Dũng mãnh; 4. Mở bàn tay; 5. Giải thích nghĩa lý.
Thương xót, là dùng tâm bồ-đề nhiếp hóa lợi ích chúng sanh.
Lời nói từ ái, là làm cho chúng sanh có chánh tín nơi Phật pháp.
Dũng mãnh, là không thoái lui, khuất phục trước những khổ hạnh khó làm.
Mở bàn tay, là lấy tiền của mà nhiếp hóa.
Giải thích nghĩa lý, là lấy giáo pháp mà nhiếp hóa.
Năm sắc thái này cần phải biết, sắc thái đầu là tâm, bốn sắc thái sau là hành.
Đã nói năm sắc thái Bồ tát, kế nói phần Bồ tát tại gia và Bồ tát xuất gia.
[0656c22] Kệ tụng:
Bồ tát tất cả thời
Hằng sống luân vương vị
Làm lợi ích chúng sanh
Phần tại gia như vậy.
Giải thích:
Bồ tát tại gia thường làm như vị luân vương, phụng hành giáo hóa mười điều thiện, rời xa mười điều ác, đó là làm lợi ích [cho chúng sinh].
[0657a03] Kệ tụng:
Thọ đắc và pháp đắc
Cùng với thị hiện thành
Ba thứ phần xuất gia
Ở trong tất cả địa.
Giải thích:
Bồ tát xuất gia có ba phần:
1. Phần thọ đắc, là từ người mà tiếp nhận sự phòng hộ;
2. Phần pháp đắc, là được sự phòng hộ vô lưu;
3. Phần thị hiện, là làm ra sự biến hóa.
Phần thọ đắc là Bồ tát ở tín giải hành địa; phần pháp đắc và phần thị hiện là Bồ tát đã nhập đại địa.
[0657a09] Kệ tụng:
Nên biết phần xuất gia
Đủ vô lượng công đức
So với phần tại gia
Tối thắng không đồng bậc.
Giải thích:
So sánh hai phần thì phần xuất gia hơn hẳn, do đầy đủ vô lượng công đức.
Đã nói phần Bồ tát tại gia và Bồ tát xuất gia, kế nói năm tâm cực đại của Bồ tát.
[0657a14] Kệ tụng:
Quả khả ái, thiện căn
Niết-bàn muốn có được
Chưa tịnh, tịnh, cực tịnh
Là ở trong các địa.
Giải thích:
Năm tâm cực đại là:
1. Tâm cực đại an vui;
2. Tâm cực đại lợi ích;
3. Tâm cực đại chưa thanh tịnh;ch
4. Tâm cực đại đã thanh tịnh;
5. Tâm cực đại cực thanh tịnh.
Quả khả ái là tâm cực đại an vui, nghĩa là làm cho các chúng sanh được quả khả ái ở đời sau.
Thiện căn là tâm cực đại lợi ích, nghĩa là làm cho các chúng sanh thực hành các điều thiện trong hiện tại và được niết-bàn.
Chưa tịnh là tâm cực đại chưa thanh tịnh, chỉ cho Bồ tát ở tín hành địa.
Tịnh là tâm cực đại đã thanh tịnh, chỉ cho Bồ tát từ địa đầu tiên đến địa thứ bảy.
Cực tịnh là tâm cực đại cực thanh tịnh, chỉ cho Bồ tát ở ba địa sau cùng.
Đã nói năm tâm cực đại của Bồ tát, kế nói bốn thứ nhiếp thọ chúng sanh của Bồ tát.
[0657a25] Kệ tụng:
Dục lạc và bình đẳng
Tăng thượng và đồ chúng
Bốn tâm nơi các địa
Nhiếp thọ các chúng sanh.
Giải thích:
Bốn thứ nhiếp thọ chúng sanh là:
1. Nhiếp thọ bằng tâm dục lạc, là lấy tâm bồ-đề để nhiếp hóa;
2. Nhiếp thọ bằng tâm bình đẳng, là nhập địa đầu tiên, được tâm bình đẳng mình người để nhiếp hóa;
3. Nhiếp thọ bằng tâm tăng thượng, là ở cư chủ vị, lấy tự tại lực để nhiếp hóa;
4. Nhiếp thọ bằng tâm đồ chúng, là nhiếp hóa để thành đệ tử của mình.
Đã nói bốn thứ nhiếp thọ chúng sanh của Bồ tát, kế nói bốn thứ thọ sanh của Bồ tát.
[0657b03] Kệ tụng:
Nghiệp lực và nguyện lực
Định lực và thông lực
Nương bốn thứ lực này
Mà Bồ tát thọ sanh.
Giải thích:
Bốn thứ thọ sanh là: 1. Nghiệp lực thọ sanh; 2. Nguyện lực thọ sanh; 3. Định lực thọ sanh; 4. Thông lực thọ sanh.
Nghiệp lực thọ sanh là Bồ tát ở tín hành địa, có nghiệp lực tự tại, tùy ý chọn lựa xứ sở thọ sanh.
Nguyện lực thọ sanh là Bồ tát nhập đại địa, có nguyện lực tự tại, vì thành thục chúng sanh mà có thể thọ sanh loài súc sanh v.v…
Định lực thọ sanh là Bồ tát chứng đắc các định, có định lực tự tại, xả cảnh giới bậc cao thọ sanh cảnh giới bậc thấp.
Thông lực thọ sanh là Bồ tát chứng đắc thần thông, có thông lực tự tại, có thể thọ sanh ở cung trời Đâu-suất v.v... thị hiện các sắc tướng.
Đã nói bốn thứ thọ sanh của Bồ tát, kế nói mười một sắc thái an trú của Bồ tát.
[0657b13] Kệ tụng:
Chứng không, chứng nghiệp quả
Trú thiền, trú giác phần
Quán đế, quán duyên khởi
Vô tướng, vô công dụng
Hóa lực, tịnh hai môn
Cùng thanh tịnh bồ-đề
Với những gì được nói
Lập sắc thái các địa.
Giải thích:
Mười một sắc thái an trú tức là mười một địa, vì an trú còn được gọi là địa.
Chứng không, hiển thị sắc thái an trú đầu tiên, là phần nhiều an trú nhân vô ngã và pháp vô ngã.
Chứng nghiệp quả, hiển thị sắc thái an trú thứ hai, là chứng nghiệp và chứng quả bất hoại thì có năng lực phòng hộ tịnh giới.
Trú thiền, hiển thị sắc thái an trú thứ ba, là năng lực thọ sanh cõi Dục mà không thoái lui các thiền định.
Trú giác phần, hiển thị sắc thái an trú thứ tư, là năng lực đi vào sanh tử mà không xả giác phần.
Quán đế, hiển thị sắc thái an trú thứ năm, là lấy [vô lượng] ánh sáng trí giác mà giáo hóa chúng sanh, rằng chỉ có cái tâm bị phiền não [nhiễm ô] chứ không có tự ngã.
Quán duyên khởi, hiển thị sắc thái an trú thứ sáu, là năng lực không khởi nhiễm tâm mà vẫn y theo duyên khởi thọ sanh.
Vô tướng, hiển thị sắc thái an trú thứ bảy, là sự tu hành tuy có dụng công, nhưng trên hết thể nhập con đường duy nhất mà phần nhiều là an trú tu tập vô tướng.
Vô công dụng, hiển thị sắc thái an trú thứ tám, là tuy làm sạch thế giới của Phật mà không khởi lên tác ý, phần nhiều an trú tu tập vô công dụng.
Hóa lực, hiển thị sắc thái an trú thứ chín, là bốn biện tự tại vô ngại có năng lực thành thục tất cả chúng sanh.
Thanh tịnh hai môn, hiển thị sắc thái an trú thứ mười, là tam-muội môn và đà-la-ni môn thì cực kỳ thanh tịnh.
Thanh tịnh bồ-đề, hiển thị sắc thái an trú thứ mười một, là diệt trừ vĩnh viễn tất cả trí chướng.
Đã nói mười một sắc thái an trú của Bồ tát, kế nói dựa vào các địa mà thiết lập danh xưng của Bồ tát.
[0657c04] Kệ tụng:
Đầu ba, ba hành tịnh
Kế ba, ba mạn đoạn
Sau ba, giác, xả, hóa
Thứ mười có bốn tên.
Giải thích:
Ở trong mười địa thiết lập mười tên gọi Bồ tát.
Đầu ba, ba hành tịnh: Ở địa đầu tiên gọi là Bồ tát kiến tịnh, vì có được cái trí đối trị hai kiến chấp [sai lầm] về nhân và pháp. Ở địa thứ hai gọi là Bồ tát giới tịnh, vì mọi sự phạm giới dơ bẩn rất nhỏ vĩnh viễn không tồn tại. Ở địa thứ ba gọi là Bồ tát định tịnh, vì các thiền và tam-muội chứng đắc thì không thoái chuyển.
Kế ba, ba mạn đoạn: Ở địa thứ tư gọi là Bồ tát đoạn pháp môn dị mạn, vì phá hủy được sự sanh khởi mạn sai biệt đối với các kinh pháp. Ở địa thứ năm gọi là Bồ tát đoạn tương tục dị mạn, vì nhập mười tâm bình đẳng nên trong mọi sự tương tục đều thấy bình đẳng. Ở địa thứ sáu gọi là Bồ tát đoạn nhiễm tịnh dị mạn, vì đặc tánh chân như có hai mặt là bản tịnh và khách trần, cho nên ở mặt nhiễm ô, Bồ tát có thể an trú nơi pháp duyên khởi; ở mặt chân như, Bồ tát không khởi cái thấy sai biệt trắng đen.
Sau ba, giác, xả, hóa: Ở địa thứ bảy gọi là Bồ tát đắc giác, vì an trú trong năng lực vô tướng nên trong mỗi ý nghĩ có thể tu tập ba mươi bảy giác phần. Ở địa thứ tám gọi là Bồ tát hành xả, vì an trú vô công dụng đối với vô tướng; cũng gọi là Bồ tát làm sạch quốc độ, vì những diệu hạnh phương tiện [ở địa thứ bảy] thích hợp với Bồ tát bất thoái địa. Ở địa thứ chín gọi là Bồ tát giáo hóa chúng sanh, vì có năng lực thành thục tất cả chúng sanh. Ở địa thứ mười có bốn tên gọi Bồ tát: 1. Bồ tát đại thần thông, vì chứng đắc đại thần thông; 2. Bồ tát viên mãn pháp thân, vì đầy đủ tam-muội môn và đà-la-ni môn; 3. Bồ tát năng hóa hiện thân, vì trú ở cung trời đâu suất v.v…, thị hiện các sắc tướng và thân hình; 4. Bồ tát thọ chức, vì được thọ chức từ Phật.
Đã nói dựa vào các địa mà thiết lập danh xưng của Bồ tát, kế nói sự tu học và quả của sự tu học dựa theo các địa của Bồ tát.
[0657c25] Kệ tụng:
Tuần tự theo sáu trước
Thấy tánh tu ba học
Tuần tự theo bốn sau
Được quả có bốn thứ.
Giải thích:
Tuần tự theo sáu trước, thấy tánh tu ba học: Bồ tát ở địa đầu tiên thông đạt chân như; ở địa thứ hai tu học giới tăng thượng; ở địa thứ ba tu học tâm tăng thượng; ở địa thứ tư, địa thứ năm và địa thứ sáu tu học tuệ tăng thượng.
Tuệ có hai đối cảnh: 1. Sự thật của các pháp, là bốn đế khổ, tập, diệt, đạo; 2. Duyên khởi, là quán sát thuận nghịch mười hai nhân duyên. Hai cảnh này cũng có trong địa thứ hai và địa thứ ba, cho nên hai địa này cũng được xây dựng bởi tuệ tăng thượng.
Tuy nhiên, ở địa thứ tư là tuệ tăng thượng về ba mươi bảy bồ-đề phần pháp, ở địa thứ năm là tuệ tăng thượng về quán bốn đế, ở địa thứ sáu là tuệ tăng thượng về quán duyên khởi, vì vậy ba địa này được xây dựng trên nền tảng của tu học tuệ tăng thượng.
Tuần tự theo bốn sau, được quả có bốn thứ: Theo địa thứ bảy, Bồ tát được sự an trú hữu công dụng đối với vô tướng, là quả thứ nhất. Theo địa thứ tám, Bồ tát được sự an trú vô công dụng đối với vô tướng, là quả thứ hai. Theo địa thứ chín, Bồ tát được sự thành thục chúng sanh, là quả thứ ba. Theo địa thứ mười, Bồ tát được hai môn thành thục, là quả thứ tư.
Đã nói sự tu học và quả của sự tu học dựa theo các địa của Bồ tát, kế nói sự tu tập năm uẩn vô lưu dựa theo các địa của Bồ tát.
[0658a11] Kệ tụng:
Thấy tánh sạch ba thân
Cũng ở sáu địa trước
Địa khác sạch hai khác
Rời xa năm chướng vậy.
Giải thích:
Sự thấy tánh ở địa đầu tiên đã giải thích. Ở địa thứ hai, Bồ tát được giới thân thanh tịnh. Ở địa thứ ba, Bồ tát được định thân thanh tịnh. Ở địa thứ tư, địa thứ năm và địa thứ sáu, Bồ tát được tuệ thân thanh tịnh. Bốn địa còn lại và Phật địa, Bồ tát được giải thoát thân và giải thoát tri kiến thân thanh tịnh, do rời xa năm chướng ngại.
Năm chướng ngại là, ở địa thứ bảy lấy sự không biết chấp tướng làm chướng ngại; ở địa thứ tám lấy sự không biết công dụng làm chướng ngại; ở địa thứ chín lấy sự không biết không có năng lực giáo hóa chúng sanh làm chướng ngại; ở địa thứ mười lấy sự không biết chưa thanh tịnh hai môn làm chướng ngại; ở Phật địa lấy sự không biết sự trở ngại làm chướng ngại; sự trở ngại ấy là sự không biết cảnh giới trí tuệ của Thanh văn và Duyên giác có thể làm sự trở ngại; chư Phật biết tất cả cảnh giới không có trở ngại nên giải thoát chướng ngại này.
Đã nói sự tu tập năm uẩn vô lưu dựa theo các địa của Bồ tát, kế nói sự thành tựu và chưa thành tựu dựa theo các địa của Bồ tát.
[0658a24] Kệ tụng:
Chưa thành tựu, thành tựu
Thành có chưa thành, thành
Như thiết lập địa biết
Phân biệt, vô phân biệt.
Giải thích:
Chưa thành tựu, thành tựu: Bồ tát ở tín hành địa gọi là chưa thành tựu. Từ tín hành địa trở lên các địa gọi là thành tựu.
Thành có chưa thành, thành: Ở trong các địa được gọi là thành tựu lại có hai loại là chưa thành tựu và thành tựu. Bồ tát từ địa thứ bảy trở xuống gọi là chưa thành tựu, vì còn hữu công dụng hành; từ địa thứ tám trở lên gọi là thành tựu, vì được vô công dụng hành.
Hỏi: Trước có nói Bồ tát ở Hoan hỷ địa cũng được gọi là thành tựu, nghĩa ấy như thế nào?
Đáp: Như thiết lập địa biết, phân biệt, vô phân biệt: Đó là do trong sự thiết lập địa này, Bồ tát biết chỉ là sự phân biệt [ngã chấp và pháp chấp]; nơi sự phân biệt ấy cũng không có phân biệt, nghĩa là sở chấp và năng chấp đều không có tự thể. Căn cứ theo nghĩa ấy mà nói [Bồ tát ở Hoan hỷ địa] là thành tựu.
[0658b05] Kệ tụng:
Nên biết trong các địa
Tu tập và thành tựu
Hai đây không nghĩ bàn
Là cảnh giới chư Phật.
Giải thích:
Bồ tát ở trong mỗi địa đều có sự tu tập và sự thành tựu; nên biết sự tu tập và sự thành tựu ở mỗi địa đều không thể nghĩ bàn, vì các Bồ tát tự chứng tuệ giác tự nội, chính là sở tri của chư Phật, không phải cảnh giới của các bậc khác.
Đã nói sự thành tựu và chưa thành tựu dựa theo các địa của Bồ tát, kế nói mười sắc thái nhập địa của Bồ tát.
[0658b11] Kệ tụng:
Minh tín, không thấp kém
Không khiếp sợ, không đợi
Thông đạt và bình đẳng
Rời thiên lệch, dính mắc
Cùng với biết phương tiện
Đồ chúng từ Phật sanh
Như vậy mười sắc thái
Mỗi địa đều viên mãn.
Giải thích:
Bồ tát nhập địa ở mỗi địa đều có mười sắc thái. Những gì là mười? 1. Minh tín; 2. Không thấp kém; 3. Không khiếp sợ; 4. Không đợi; 5. Thông đạt; 6. Bình đẳng; 7. Rời thiên lệch; 8. Rời dính mắc; 9. Biết phương tiện; 10. Đồ chúng từ Phật sanh.
Minh tín là ở địa của mình thì có được sáng suốt, vì trừ được sự vô tri đối với các pháp; đối với địa khác thì có được đức tin, vì sanh ước nguyện ưa thích đối với các địa ở sau.
Không thấp kém là nghe được giáo pháp vi diệu sâu xa mà không kinh sợ.
Không khiếp sợ là thực hành rất dũng mãnh hạnh khó làm.
Không đợi là khởi sự tu hành địa của mình mà không đợi dạy bảo.
Thông đạt là có năng lực sanh khởi phương tiện của địa khác.
Bình đẳng là chúng sanh khắp cả cùng một tự tâm.
Rời thiên lệch là tai nghe khen chê mà tâm không có cất cao hay hạ thấp.
Rời dính mắc là được các địa vị như chuyển luân vương v.v… vẫn không lưu luyến và nhiễm ô.
Biết phương tiện là biết các pháp không thể thủ đắc làm phương tiện của Phật.
Đồ chúng từ Phật sanh là đồ chúng luôn được sanh ra từ chư Phật.
Mười sắc tướng này mỗi một địa đều có đủ.
Đã nói mười sắc thái nhập địa của Bồ tát, kế nói sắc thái của mười ba-la-mật ở các địa của Bồ tát.
[0658b28] Kệ tụng:
Có dục, không sáu chướng
Tiếp đến không loạn tuệ
Không nổi, không trở lui
Thờ thiện hữu, cúng dường
Hồi hướng, sanh thù thắng
Tu thiện, du hý thông
Tạng công đức như vậy
Phật tử mười sáu tướng.
Giải thích:
Các Bồ tát ở trong các địa có mười sáu sắc thái tu tập mười ba-la-mật. Những gì là mười sáu?
1. Có dục tâm, là ưa thích thực hành các độ;
2. Không keo lẫn, là rời xa chướng ngại của thí;
3. Không trái phạm, là rời xa chướng ngại của giới;
4. Không giận dữ, là rời xa chướng ngại của nhẫn;
5. Không biếng nhác, là rời xa chướng ngại của tiến;
6. Từ bi, là rời xa chướng ngại của định; từ bi có năng lực cho vui cứu khổ, là phương cách đối trị giận dữ và bực tức, từ bi do định mà có được;
7. Không ác tuệ, là rời xa chướng ngại của tuệ; ác tuệ có ba loại: phân biệt tự tánh, phân biệt tùy ức và phân biệt hiển thị, ba loại này có thể đoạn trừ;
8. Không loạn tuệ, là rời xa tâm hướng về thừa khác;
9. Không nổi trôi, là không bị ngũ dục của con người và thắng lạc của cõi trời làm cho tâm mình say đắm;
10. Không trở lui, là không bị cái khổ vì không thành tựu và cái khổ vì khó thực hành làm cho tâm mình thoái chuyển;
11. Thờ thiện hữu, là nương tựa sự thị hiện như bậc thiện tri thức của Phật để được nghe pháp Đại thừa;
12. Cúng dường, là cúng dường Tam bảo;
13. Hồi hướng, là phương tiện thiện xảo;
14. Sanh thù thắng, là hiển thị sắc thái của nguyện ba-la-mật, là rời xa tám nạn xứ, không rời xa chư Phật Bồ tát;
15. Tu thiện, là hiển thị sắc thái của lực ba-la-mật, là tu tập không ngừng nghỉ các thiện căn;
16. Thần thông du hý, là hiển thị sắc thái của trí ba-la-mật, là vận dụng vô ngại các đại thần thông và công đức [của trí tuệ].
Bồ tát có những sắc thái này thì thường làm bậc thượng thủ trong tất cả chúng. Đây gọi là mười sáu sắc thái của người con Phật.
Đã nói sắc thái của mười ba-la-mật ở các địa của Bồ tát, kế nói năm công đức ở mỗi ba-la-mật của Bồ tát.
[0658c20] Kệ tụng:
Mỗi địa khi thăng tiến
Mỗi độ có năm đức
Hai cùng hai và một
Tu tập chỉ và quán.
Giải thích:
Mỗi địa khi thăng tiến, mỗi độ có năm đức: Bồ tát ở mỗi một địa tu tập mỗi một độ, và trong mỗi một độ có đủ năm thứ công đức.
Những gì là năm? 1. Diệt tập khí; 2. Được khinh an; 3. Tròn sáng; 4. Tướng khởi; 5. Nhân tố rộng lớn.
Diệt tập khí là trong từng sát-na diệt trừ khối tập khí dựa vào.
Được khinh an là rời xa mọi thứ ấn tượng để an trú pháp lạc.
Tròn sáng là biết tất cả chủng, không có tác ý phần đoạn.
Tướng khởi là khi nhập đại địa thì vô phân biệt tướng sanh khởi.
Nhân tố rộng lớn là làm viên mãn và thanh tịnh tất cả sắc thái của pháp thân, là làm cho cả hai khối phước trí được tăng trưởng.
Hai cùng hai và một, tu tập chỉ và quán: Ở đây nên biết, hai công đức đầu là phần chỉ, hai công đức tiếp theo là phần quán, công đức thứ năm là gồm hai phần chỉ quán.
Đã nói năm công đức ở mỗi ba-la-mật của Bồ tát, kế giải thích danh xưng mười địa của Bồ tát.
[0659a04] Kệ tụng:
Thấy chân, thấy lợi vật
Xứ này được Hoan hỷ.
Xuất phạm, xuất dị tâm
Gọi là Ly cấu địa.
Sức cầu pháp, trì pháp
Phát ánh sáng gọi Minh.
Củi hoặc chướng, trí chướng
Thiêu đốt là Diệm tuệ.
Hai khó làm thoái lui
Thoái lui nên Nan thắng.
Quán không trú hai pháp
Hằng hiện gọi Hiện tiền.
Nhiều đường gần nhất thừa
Đi xa gọi Viễn hành.
Tưởng tướng, tưởng vô tướng
Không động, Bất động địa.
Bốn biện trí lực xảo
Thuyết thiện gọi Thiện tuệ.
Hai môn như mây giăng
Mưa pháp gọi Pháp vân.
Giải thích:
Thấy chân, thấy lợi vật, xứ này được Hoan hỷ: Bồ tát ở trong địa đầu tiên có hai cái thấy: một là thấy chân như, nghĩa là thấy sự lợi mình: thấy mình đi đến gần với bồ-đề, xưa chưa từng thấy, nay mới vừa thấy; hai là thấy lợi vật, nghĩa là thấy sự lợi người: trong từng sát-na có năng lực thành thục hàng trăm chúng sanh. Do hai cái thấy này, Bồ tát khởi lên sự hoan hỷ thù thắng, nên gọi là Hoan hỷ địa.
Xuất phạm, xuất dị tâm, gọi là Ly cấu địa: Bồ tát ở địa thứ hai ra khỏi được hai thứ dơ bẩn: một là ra khỏi sự phạm giới dơ bẩn, hai là ra khỏi sự khởi tâm dị thừa dơ bẩn. Do ra khỏi hai sự dơ bẩn này mà gọi là Ly cấu địa. Như kinh Thập địa nói: “Chúng con siêng năng tinh tiến để được tịnh giới, thành mãn sự thanh tịnh của nhất thiết chủng trí. ”
Sức cầu pháp, trì pháp, phát ánh sáng gọi Minh: Bồ tát ở trong địa thứ ba có được sức tự tại của tam-muội nên có thể cầu, có thể thừa tự, có thể gìn giữ vô lượng Phật pháp, được ánh sáng chánh pháp lớn lao, vì người mà làm chỗ dựa ánh sáng trí giác. Do có thể lấy chánh pháp soi sáng cho mình, soi sáng cho người nên gọi là Minh địa.
Củi hoặc chướng, trí chướng, thiêu đốt là Diệm tuệ: Bồ tát ở trong địa thứ tư lấy trí giác của pháp bồ-đề phần làm tự tánh của ngọn lửa, lấy hoặc chướng và trí chướng làm tự tánh của củi. Bồ tát ở địa này có thể khởi lên ngọn lửa trí giác đốt tiêu củi hai chướng nên gọi là Diệm tuệ địa.
Hai khó làm thoái lui, thoái lui nên Nan thắng: Bồ tát ở trong địa thứ năm có hai thứ khó: khó thứ nhất là siêng năng giáo hóa chúng sanh mà tâm không phiền não, khó thứ hai là chúng sanh không làm theo sự giáo hóa mà tâm không phiền não. Bồ tát ở địa này có thể thoái lui vì hai thứ khó, phải khó khăn lắm mới vượt thắng nên gọi là Nan thắng địa.
Quán không trú hai pháp, hằng hiện gọi Hiện tiền: Bồ tát ở trong địa thứ sáu dựa vào trí tuệ ba-la-mật mà có năng lực không trú hai pháp là sanh tử và niết-bàn. Tuệ quán như vậy hằng hiện ở trước mắt nên gọi là Hiện tiền địa.
Nhiều đường gần nhất thừa, đi xa gọi Viễn hành: Bồ tát ở trong địa thứ bảy thì đã tiếp cận với đạo nhất thừa, cho nên gọi là đi xa.
Hỏi: Cái gì là đi xa?
Đáp: Phương tiện [thiện xảo] cho sự cứu cánh tuy còn hữu công dụng nhưng vẫn có khả năng đưa Bồ tát đi xa. Do sự đi xa này mà gọi là Viễn hành địa.
Tưởng tướng, tưởng vô tướng, không động, Bất động địa: Bồ tát ở trong địa thứ tám đối với ấn tượng hữu tướng và ấn tượng hữu công dụng về vô tướng, cả hai ấn tượng này đều không thể dao động. Do không có sự dao động này nên gọi là Bất động địa.
Bốn biện trí lực xảo, thuyết thiện gọi Thiện tuệ: Bồ tát ở trong địa thứ chín được bốn vô ngại tuệ thuộc loại thù thắng nhất, nên ở trong khoảng một sát-na, hết thảy người trời có chủng loại khác nhau nơi ba ngàn thế giới, cùng hỏi những câu hỏi khác nhau bằng tiếng nói khác nhau và nghĩa lý khác nhau, vậy mà Bồ tát ở địa này có thể dùng một tiếng nói trả lời khắp cả những câu hỏi của mọi loài, đoạn trừ những hoài nghi. Do sự thuyết pháp một cách khéo léo như vậy nên gọi là Thiện tuệ địa.
Hai môn như mây giăng, mưa pháp gọi Pháp vân: Bồ tát ở trong địa thứ mười nhờ tam-muội môn và đà-la-ni môn mà nhiếp thọ tất cả nhân tố đa văn huân tập làm đầy khắp trong thức a-lại-da, giống như mây lớn giăng che khắp cả hư không. Bồ tát ở địa này có thể lấy đám mây đa văn huân tập, ở trong từng sát-na, ở mỗi một tướng hảo, ở mỗi một vẻ đẹp tùy hình, ở mỗi lỗ chân lông, đổ mưa xuống vô lượng vô biên cơn mưa giáo pháp, làm sung mãn tất cả chúng sanh có thể hóa độ. Do như đám mây đổ mưa giáo pháp nên gọi là Pháp vân địa.
Đã giải thích danh xưng riêng biệt rồi, thế nào gọi là trú, thế nào gọi là địa?
[0659b22] Kệ tụng:
Vì tập các thiện căn
Lạc trú nên nói trú
Số đếm, số, vô úy
Lại lấy địa làm tên.
Giải thích:
Vì tập các thiện căn, lạc trú nên nói trú: Các Bồ tát vì thành tựu mọi thứ thiện căn nên ở trong tất cả thời gian an trú ý lạc trong tất cả địa, vì vậy các địa còn được gọi là các trú.
Số đếm, số, vô úy, lại lấy địa làm tên: Bộ-di-da (步彌耶) gọi là địa. Bộ là nghĩa của số đếm. Di là nghĩa của số thật. Da là nghĩa không sợ hãi. Các Bồ tát muốn tiến lên địa ở trên thì ở trong mỗi một địa phải đoạn trừ số đếm chướng ngại, có được số đếm công đức, nên gọi là nghĩa của số đếm.
Địa lấy mười số làm lượng. Các Bồ tát ở trong tất cả địa đều biết phải đoạn trừ những chướng ngại như thế, biết phải có được những công đức như thế, biết những điều đó là không giả dối, nên gọi là nghĩa của số thật.
Các địa ở trên là trú xứ không sợ hãi. Các Bồ tát e sợ rằng nếu ở mãi trong địa của mình thì sẽ thoái mất những công đức lợi mình lợi người, nên mong muốn tiến lên các địa ở trên, gọi đó là nghĩa không sợ hãi.
Do ba nghĩa đây nên gọi là địa.
Đã nói danh xưng mười địa của Bồ tát, kế nói bốn sự thủ đắc các địa sai biệt của Bồ tát.
[0659c07] Kệ tụng:
Tin hiểu và chánh hành
Thông đạt và thành mãn
Nên biết các Bồ tát
Đắc địa có bốn sự.
Giải thích:
Bốn sự thủ đắc các địa là: 1. Thủ đắc nhờ tin hiểu; 2. Thủ đắc nhờ chánh hành; 3. Thủ đắc nhờ thông đạt; 4. Thủ đắc nhờ thành mãn.
Thủ đắc nhờ tin hiểu, là lấy sự tin hiểu (sâu xa) để thủ đắc các địa, như nói đến trong tín địa. Thủ đắc nhờ chánh hành, là lấy chánh hành để thủ đắc các địa.
Các Bồ tát đối với pháp Đại thừa có mười chánh hành: 1. Sao chép; 2. Hiến cúng; 3. Chuyền cho; 4. Nghe nhận; 5. Dở đọc; 6. Chỉ dạy; 7. Phúng tụng; 8. Giảng nói; 9. Suy nghĩ; 10. Tu tập.
Mười chánh hành này có năng lực sanh ra khối công đức vô lượng. Mười chánh hành này thủ đắc các địa nên gọi là thủ đắc nhờ chánh hành.
Thủ đắc nhờ thông đạt, là thông đạt đệ nhất nghĩa đế, cho đến Bồ tát ở địa thứ bảy được gọi là thông đạt.
Thủ đắc nhờ thành mãn, là Bồ tát từ địa thứ tám đến Phật địa được gọi là thủ đắc nhờ thành mãn.
Đã nói bốn sự thủ đắc các địa sai biệt của Bồ tát, kế nói bốn sự tu hành sai biệt của Bồ tát.
[0659c19] Kệ tụng:
Các độ, các giác phần
Các thần thông, nhiếp sanh
Vì Đại thừa, tiểu thừa
Cùng thể nhập, thành thục.
Giải thích:
Nói tổng quát, tất cả hành Bồ tát không ra ngoài bốn sự: 1. Hành ba-la-mật; 2. Hành bồ-đề phần pháp; 3. Hành thần thông; 4. Hành nhiếp hóa chúng sanh.
Hành ba-la-mật là nói về chúng sanh cầu Đại thừa. Hành bồ-đề phần pháp là nói về chúng sanh cầu Tiểu thừa. Hành thần thông là làm cho hai loại chúng sanh thể nhập được Phật pháp. Hành nhiếp hóa chúng sanh là làm cho hai loại chúng sanh thành thục Phật pháp.
Phẩm Hành Trú trọn vẹn
Phẩm Hai Mươi Bốn
KÍNH PHẬT
Giải thích:
Đã nói hành trú của Bồ tát, kế nói công đức lễ Phật.
[0659c29] Kệ tụng:
Tâm hòa đồng, xa lìa
Tâm không mất, lợi ích
Thương xót các chúng sanh
Cứu đời, con đảnh lễ.
Giải thích:
Kệ tụng này là kính lạy Như lai, đấng công đức vô lượng.
Tâm hòa đồng, là tâm từ, vì muốn mang lại niềm vui.
Tâm xa lìa, là tâm bi, vì muốn lấy đi nỗi khổ.
Tâm không mất, là tâm hỷ, vì muốn chúng sanh luôn được hoan hỷ.
Tâm lợi ích, là tâm xả, vì muốn chúng sanh không bị nhiễm ô.
[0660a03] Kệ tụng:
Giải thoát hết thảy chướng
Thắng hơn các thế gian
Cùng khắp tất cả xứ
Tâm thoát, con đảnh lễ.
Giải thích:
Kệ tụng này là kính lạy Như lai về công đức thù thắng của ba xứ.
Giải thoát hết thảy chướng: Tán dương sự thù thắng của giải thoát, là được giải thoát vì không còn tất cả hoặc chướng và tất cả trí chướng.
Thắng hơn các thế gian: Tán dương sự thù thắng của chế ngự thể nhập, là tâm tự tại với cảnh sở duyên, tùy ý chuyển hóa.
Cùng khắp tất cả xứ: Tán dương sự thù thắng của biến xứ thể nhập, là trí cùng khắp trong tất cả cảnh.
Ba nghĩa này nói về tâm được giải thoát đối với ba xứ, nên tán dương là đấng tâm giải thoát.
[0660a14] Kệ tụng:
Ngăn chận phiền não khởi
Diệt tổn hại mê hoặc
Thương chúng sanh ô nhiễm
Đấng bi, con đảnh lễ.
Giải thích:
Kệ tụng này là kính lạy Như lai về công đức thù thắng của vô tránh (không tranh cãi).
Ngăn chận phiền não khởi: Tất cả chúng sanh sanh khởi phiền não, mọi việc làm của Như lai đều làm cho chúng sanh không sanh khởi phiền não.
Diệt tổn hại mê hoặc: Tất cả mê hoặc nếu đã sanh khởi thì Như lai cũng có thể giúp cho chúng sanh sanh khởi phương tiện đối trị. Bậc khác có đức tánh không tranh cãi thì đó là duyên tố làm cho người khác không sanh khởi mê hoặc, chứ không thể làm cho người khác sanh khởi đối trị. Sự vô tránh của Như lai không phải như vậy, chẳng những làm cho chúng sanh không khởi mê hoặc mà còn khiến cho chúng sanh sanh khởi sự đối trị mê hoặc, cho nên gọi là vô tránh thù thắng.
Thương chúng sanh ô nhiễm, Đấng bi, con đảnh lễ: Tam-muội vô tránh của Như lai thì nghiêng về sự sanh khởi lòng thương xót đối với tất cả chúng sanh còn có ô nhiễm, cho nên đối với chúng sanh, Như lai được gọi là đấng đại bi.
[0660a25] Kệ tụng:
Không dụng công, không vướng
Không ngại, hằng tịch tĩnh
Giải đáp tất cả nghi
Thắng trí, con đảnh lễ.
Giải thích:
Kệ tụng này là kính lạy Như lai về công đức thù thắng của nguyện trí.
Nguyện trí của Như lai có năm sự thù thắng: 1. Không còn khởi dụng công; 2. Không vướng mắc ở đối cảnh; 3. Không bị ngăn ngại ở trong tâm; 4. Thường xuyên tịch tĩnh; 5. Giải đáp các hoài nghi. Do có năm nghĩa này nên gọi là thù thắng.
Nguyện trí của bậc khác là: 1. Không phải không dụng công, vì còn khởi tác ý; 2. Không phải không vướng mắc, vì có định lực giả tạm; 3. Không phải không ngăn ngại, vì sự thấy biết đôi phần ít ỏi; 4. Không phải thường xuyên tịch tĩnh, vì không phải là định thường tịch; 5. Không giải đáp các hoài nghi, vì có chỗ không biết tới.
[0660b04] Kệ tụng:
Sở y và năng y
Ngôn từ và trí tuệ
Sự thuyết tuệ vô ngại
Khéo thuyết, con đảnh lễ.
Giải thích:
Kệ tụng này là kính lạy Như lai về công đức thù thắng của bốn trí vô ngại.
Sự được thuyết có hai thứ: 1. Sở y, là giáo pháp; 2. Năng y, là nghĩa lý.
Công cụ thuyết pháp có hai thứ: 1. Ngôn từ thông suốt; 2. Trí tuệ khéo léo.
Như lai đối với sự được thuyết và công cụ thuyết pháp đều sử dụng tuệ giác vô ngại, cho nên gọi là thù thắng.
Sự thuyết, là hiển thị nghiệp dụng vô ngại. Khéo thuyết, là vận dụng phương tiện để khai mở, chỉ bày.
[0660b11] Kệ tụng:
Qua lại và nghe biết
Biết tâm hành, đến, đi
Khiến người được xuất ly
Giáo hóa, con đảnh lễ.
Giải thích:
Kệ tụng này là kính lạy Như lai về công đức thù thắng của sáu thần thông.
Qua lại, là như ý thông, là năng lực qua lại mọi xứ sở.
Nghe biết, là thiên nhĩ thông, là năng lực nghe biết mọi ngôn âm.
Biết tâm hành, là tha tâm thông, là năng lực biết rõ tâm hành sai biệt của người.
Biết từ đâu đến, là túc trú thông, là năng lực biết rõ đời trước người kia từ nhân nào đến.
Biết đi về đâu, là sanh tử thông, là biết rõ người kia đời nay từ nhân nào đi.
Khiến người được xuất ly, là lậu tận thông, là đúng với chân thật vì người thuyết pháp.
[0660b20] Kệ tụng:
Chúng sanh nhìn thấy Ngài
Biết chắc là trượng phu
Tâm tịnh tín sâu xa
Phương tiện, con đảnh lễ.
Giải thích:
Kệ tụng này là kính lạy Như lai về công đức thù thắng của tướng hảo.
Tất cả chúng sanh một lần được nhìn thấy Ngài thì biết chắc Như lai là bậc đại trượng phu, và khởi lên sự tin tưởng trong sáng và sâu xa nơi Như lai, vì Ngài dùng tướng hảo làm phương tiện.
[0660b25] Kệ tụng:
Giữ bỏ trú, biến hóa
Định, trí được tự tại
Như vậy bốn thanh tịnh
Thế tôn, con đảnh lễ.
Giải thích:
Kệ tụng này là kính lạy Như lai về công đức thù thắng của bốn tướng thanh tịnh. Đó là: 1. Thân thanh tịnh; 2. Duyên thanh tịnh; 3. Tâm thanh tịnh; 4. Trí thanh tịnh.
Giữ bỏ trú, hiển thị thân thanh tịnh, là năng lực giữ, bỏ hay trú ở sự sống lâu của thân mạng một cách tự tại.
Biến hóa, hiển thị duyên thanh tịnh, là năng lực chuyển đổi và biến hóa các cảnh giới một cách tự tại.
Định, hiển thị tâm thanh tịnh, là năng lực xuất nhập các định một cách tự tại.
Trí, hiển thị trí thanh tịnh, là năng lực biết các cảnh giới vô ngại một cách tự tại.
[0660c05] Kệ tụng:
Phương tiện và qui y
Thanh tịnh và xuất ly
Đây phá bốn lừa dối
Hàng ma, con đảnh lễ.
Giải thích:
Kệ tụng này là kính lạy Như lai về công đức thù thắng của mười lực.
Ma vương dựa vào bốn sự để phá hoại chúng sanh. Bốn sự là gì?
1. Dựa vào phương tiện để lừa dối, mê hoặc chúng sanh, nói thọ dụng năm trần thì được sanh đường lành, không đọa đường dữ;
2. Dựa vào quy y để lừa dối, mê hoặc chúng sanh, nói chúa trời Tự tại v.v... là nơi chốn quy y, quy y nơi khác là sai lầm;
3. Dựa vào thanh tịnh để lừa dối, mê hoặc chúng sanh, nói chỉ có các định của thế gian mới là thanh tịnh, các định khác không phải thanh tịnh;
4. Dựa vào xuất ly để lừa dối, mê hoặc chúng sanh, nói chỉ có đạo quả của tiểu thừa mới có thể xuất ly, chẳng phải Đại thừa có được.
Phật vì phá bốn sự của ma vương mà hiển thị mười lực:
1. Phật dùng trí lực thị xứ phi xứ để phá sự thứ nhất của ma vương, do phương tiện thiện lành có thể được sanh cõi trời, không phải phương tiện xấu ác làm được;
2. Phật dùng trí lực tam thế nghiệp báo để phá sự thứ hai của ma vương, do nghiệp lực của mình khiến được sanh cõi trời, không phải dựa vào năng lực của chúa trời Tự tại v.v…;
3. Phật dùng trí lực thiền định giải thoát để phá sự thứ ba của ma vương, do biết hết các thiền định, giải thoát tam-muội và tam-ma-bạt-đề;
4. Phật dùng bảy trí lực khác mà phá sự thứ tư của ma vương, do rời bỏ căn tánh thấp kém v.v… để đứng yên nơi căn tánh cao tột.
[0660c20] Kệ tụng:
Trí đức và đoạn đức
Xuất ly và chướng ngại
Thuyết pháp lợi mình người
Dẹp tà, con đảnh lễ.
Giải thích:
Kệ tụng này là kính lạy Như lai về công đức thù thắng của bốn vô úy.
Trí đức là nói về nhất thiết trí vô úy.
Đoạn đức là nói về lậu tận vô úy.
Xuất ly là nói về thuyết tận khổ đạo vô úy.
Chướng ngại là nói về thuyết chướng đạo vô úy.
Ở đây, trí đức và đoạn đức là nói về công đức lợi mình, xuất ly và chướng ngại là nói về công đức lợi người.
Các ngoại đạo nạn vấn rằng: Sa-môn Cù-đàm (1) chẳng có đủ nhất thiết trí, (2) chẳng diệt hết tất cả lậu, (3) thuyết đạo [xuất thế] mà không thể hết khổ, (4) thuyết chướng pháp mà không thật có trở ngại đạo.
Như lai đối với bốn nạn vấn này đều có thể bác bỏ, cho nên gọi là vô úy.
[0660c29] Kệ tụng:
Trong chúng nói trị phạt
Không giữ gìn cái gì
Rời hai bẩn, chánh trú
Nhiếp chúng, con đảnh lễ.
Giải thích:
Kệ tụng này là kính lạy Như lai về công đức thù thắng của ba bất hộ.
Trong chúng nói trị phạt, không giữ gìn cái gì: Nếu Phật còn có cái gì để giữ gìn thì ở trong đại chúng Phật không thể nói ra sự trị phạt tới cùng.
Rời hai bẩn, chánh trú: Rời bỏ hai sự dơ bẩn là không có vui mừng và buồn ghét. Chánh trú là không quên mất chánh niệm. Do hai thứ công đức này mà gọi là thù thắng, có năng lực nhiếp hóa tất cả đồ chúng. Đây chính là nghiệp dụng của Phật.
[0661a08] Kệ tụng:
Đi đứng ở mọi nơi
Toàn là nhất thiết trí
Đoạn tất cả tập khí
Thật nghĩa, con đảnh lễ.
Giải thích:
Kệ tụng này là kính lạy Như lai về công đức thù thắng của đoạn trừ tập khí.
Như lai trong mọi lúc, ở mọi nơi, đi đứng nằm ngồi toàn là sự dụng thể hiện uy nghi của nhất thiết trí, vì Như lai đã đoạn trừ tất cả phiền não và cả tập khí.
Nếu không có nhất thiết trí thì phiền não tuy hết nhưng tập khí chưa hết. Khi đi đứng mà gặp phải xe ngựa chạy nhanh rồi bị tổn hại là vì không có uy nghi của nhất thiết trí. Như lai không mắc phải việc này vì thật sự có nhất thiết trí.
[0661a16] Kệ tụng:
Việc lợi ích chúng sanh
Đúng lúc không lỡ thời
Việc làm thường không sót
Không quên, con đảnh lễ.
Giải thích:
Kệ tụng này là kính lạy Như lai về công đức thù thắng của sự không lãng quên.
Trong sự lợi ích yên vui cho chúng sanh, việc Như lai làm thường xuyên đúng lúc và không bỏ lỡ cơ hội; đây là nghiệp dụng của pháp không lãng quên. Trong mọi thời gian, việc Như lai làm đều không có hư dối; đây là tự tánh của pháp không lãng quên.
[0661a22] Kệ tụng:
Ngày đêm sáu thời quán
Tất cả cõi chúng sanh
Đầy đủ tâm đại bi
Ý lợi, con đảnh lễ.
Giải thích:
Kệ tụng này là kính lạy Như lai về công đức thù thắng của đại bi.
Bằng tâm đại bi, Như lai ngày đêm sáu thời quán sát chúng sanh, ai thoái, ai tiến: người chưa khởi thiện căn, Ngài làm cho người ấy khởi thiện căn; người đã khởi thiện căn, Ngài làm cho người ấy tăng tiến thiện căn.
Tuy một ngày đêm có sáu thời mà thật ra Ngài thường chuyển pháp luân trong mọi thời gian, vì Ngài có đầy đủ tâm đại bi; đây chính là nghiệp dụng của tâm đại bi.
Như lai thường khởi tâm ý lợi lạc cho tất cả chúng sanh; đây là tự tánh của tâm đại bi.
[0661b01] Kệ tụng:
Do hành và do chứng
Do trí và do nghiệp
Hơn tất cả nhị thừa
Cao tột, con đảnh lễ.
Giải thích:
Kệ tụng này là kính lạy Như lai về công đức thù thắng của mười tám pháp bất cộng.
Như lai có mười tám pháp bất cộng: 1. Thân không lầm lỗi; 2. Miệng không lầm lỗi; 3. Ý không lầm lỗi; 4. Không có ý tưởng riêng khác; 5. Không lúc nào tâm không trú định; 6. Không có sự không biết mà đã xả; 7. Nguyện dục không giảm; 8. Tinh tiến không giảm; 9. Niệm không giảm; 10. Tuệ không giảm; 11. Giải thoát không giảm; 12. Giải thoát tri kiến không giảm; 13. Trí biết đời quá khứ không vướng mắc, không chướng ngại; 14. Trí biết đời vị lai không vướng mắc, không chướng ngại; 15. Trí biết đời hiện tại không vướng mắc, không chướng ngại; 16. Thân nghiệp hành động theo trí tuệ; 17. Khẩu nghiệp hành động theo trí tuệ; 18. Ý nghiệp hành động theo trí tuệ.
Mười tám pháp ấy chia ra bốn loại: hành, gồm sáu bất cộng đầu tiên; chứng, gồm sáu bất cộng kế tiếp; trí, gồm ba bất cộng tiếp theo; nghiệp, gồm ba bất cộng cuối cùng.
Tất cả Thanh văn, Duyên giác đối với hết thảy chúng sanh khác là bậc cao. Như lai do có bốn sự bất cộng, so với bậc cao ấy là bậc cao hơn, nên được gọi là đấng cao tột.
[0661b16] Kệ tụng:
Ba thân đại bồ-đề
Đắc nhất thiết chủng trí
Chúng sanh mọi nơi nghi
Trừ diệt, con đảnh lễ.
Giải thích:
Kệ tụng này là kính lạy Như lai về công đức thù thắng của nhất thiết chủng trí.
Ba thân là: 1. Tự tánh thân; 2. Thọ dụng thân; 3. Hóa thân. Đây là nói tự tánh của nhất thiết chủng trí.
Hỏi: Trí này biết tất cả chủng loại trong tất cả cảnh là thế nào?
Đáp: Tất cả chúng sanh ở khắp mọi nơi sanh nghi hoặc, trí này có thể đoạn diệt những nghi hoặc ấy. Đây là nghiệp dụng của nhất thiết chủng trí.
[0661b23] Kệ tụng:
Không dính mắc, không lỗi
Không dơ bẩn, không ngưng
Không động, không hý luận
Thanh tịnh, con đảnh lễ.
Giải thích:
Kệ tụng này là kính lạy Như lai về công đức thù thắng của sáu độ viên mãn.
Không dính mắc, là không bị dính mắc tiền của.
Không lỗi, là ba nghiệp thân miệng ý vĩnh viễn không vẩn đục.
Không dơ bẩn, là các khổ của pháp thế gian không làm nhuốm bẩn tâm.
Không ngưng, là có chút sở đắc không chịu ngưng nghỉ, trú ở.
Không động, là tâm hằng tịch tĩnh, không có tán loạn.
Không hý luận, là đối với tất cả pháp mà khởi phân biệt đều không phải chỗ sở hành.
Như lai viên mãn sáu ba-la-mật nên hoàn toàn rời sáu chướng, được gọi là đấng thanh tịnh.
[0661c02] Kệ tụng:
Thành tựu đệ nhất nghĩa
Xuất ly tất cả địa
Đến vị trí cực tôn
Giải thoát các chúng sanh.
Công đức vô tận đẳng
Hiện đời đều đầy đủ
Thế gian thấy, chúng thấy
Trời người đều không thấy.
Giải thích:
Kệ tụng này là kính lạy Như lai về công đức thù thắng của pháp thân Phật.
Ở đây lược nói pháp thân Phật có sáu đức:
1. Thể;
2. Nhân;
3. Quả;
4. Nghiệp;
5. Tương ứng;
6. Sai biệt.
Do sáu đức này biểu hiện mà biết đó chính là Phật, nên gọi là pháp thân Phật.
Thành tựu đệ nhất nghĩa: Đây là thể của pháp thân, do viên thành đệ nhất nghĩa, chứng đắc chân như thanh tịnh tột cùng.
Xuất ly tất cả địa: Đây là nhân của pháp thân, do tu tập tất cả địa vị Bồ tát mà xuất ly.
Đến vị trí cực tôn: Đây là quả của pháp thân, do đạt đến vị trí trên hết tất cả chúng sanh.
Giải thoát các chúng sanh: Đây là nghiệp của pháp thân, do có năng lực làm cho chúng sanh được giải thoát.
Công đức vô tận đẳng, hiện đời đều đầy đủ: Đây là tương ứng của pháp thân, do thích ứng với các đức vừa vô tận vừa vô đẳng.
Thế gian thấy, chúng thấy, trời người đều không thấy: Đây là sai biệt của pháp thân. Thế gian thấy, là mọi loài trong các thế giới đều thấy hóa thân. Chúng thấy, là chúng Bồ tát trong đại hội của Phật thấy được thọ dụng thân. Không thấy, là nhân loại, chư thiên v.v… trong mọi thời gian đều không thể thấy được tự tánh thân. Đây là sự sai biệt của ba thân.
Phẩm Kính Phật trọn vẹn
Luận Đại thừa trang nghiêm kinh được thuyết trọn vẹn trong thời gian cực kỳ thanh tịnh.
Chú thích (dành cho cả 13 quyển):
1. Vô Trước (無著, Asaṅga, 294 - 376): dịch âm là A-tăng-già (阿僧伽), dịch nghĩa là Vô chướng ngại. Ngài là một trong những vị sáng lập Du-già hành phái thuộc Phật giáo Đại thừa ở Ấn Độ, sống vào khoảng thế kỷ thứ 4, người vùng Phổ-lỗ-hạ-phổ-lạp (普魯夏普拉, Puruṣapura).
Theo Bà-tẩu-bàn-đậu Pháp sư truyện, cha ngài tên là Kiều-thi-ca, là quốc sư Bà-la-môn. Ngài có 3 anh em đều lấy tên là Bà-tẩu-bàn-đậu (Vasubandhu). Ban đầu, ngài xuất gia với bộ phái Tát-bà-đa (薩婆多, Thuyết nhất thiết hữu bộ) thuộc Tiểu thừa.
Nhân tư duy về nghĩa Không mà chẳng ngộ nhập được, ngài muốn tự sát. Bấy giờ, ở phía đông Tỳ-đề-ha có ngài Tân-đầu-la (賓頭羅, Piṇḍola) thuyết giảng về Không quán của Tiểu thừa, ngài vừa nghe pháp thì liền ngộ nhập, nhưng đối với sở ngộ này ngài vẫn chưa thỏa mãn, bèn dùng thần thông bay lên cõi trời Đâu-suất, thọ nhận Không quán của Đại thừa từ Bồ tát Di-lặc. Sau đó, ngài lại nhiều lần lên cõi trời này học các nghĩa sâu xa của Đại thừa như Du-già sư địa luận v.v..., đồng thời nhóm họp đại chúng giảng nói, nhờ đó mà pháp môn Du-già được truyền bá khắp nơi.
Ngài tận lực tuyên dương tư tưởng Pháp tướng của Đại thừa, lại soạn các luận sớ để giải thích kinh điển Đại thừa. Người em của ngài là Thế Thân, trước kia theo học với Tiểu thừa, sau nghe lời khuyên của ngài mà quay về với Đại thừa, cũng tận lực xiển dương giáo nghĩa Đại thừa. Trước tác của ngài gồm có Kim cang Bát-nhã luận (金剛般若論, ĐTK 1510), Thuận trung luận (順中論, ĐTK 1565), Nhiếp Đại thừa luận (ĐTK 1593), Nhiếp Đại thừa luận bổn (ĐTK 1594), Năng đoạn kim cương Bát-nhã ba-la-mật kinh luận thích (能斷金剛般若波羅蜜多經論釋, ĐTK 1513), Đại thừa A tỳ đạt ma tập luận (大乘阿毘達磨集論, ĐTK 1605), Hiển dương Thánh giáo luận tụng (顯揚聖教論頌, ĐTK 1603), Lục môn giáo thọ tập định luận (六門教授習定論, ĐTK 1607) và Đại thừa trang nghiêm kinh luận là bản luận này.
2. Đại Chánh tạng, quyển 31, kinh số 1594, Vô Trước tạo, Huyền Trang dịch.
3. 應言《莊嚴大乘經論》。能莊嚴大乘經故。先雲《大乘莊嚴經論》者非也。無有大乘莊嚴經故。Ưng ngôn “Trang nghiêm đại thừa kinh luận”, năng trang nghiêm đại thừa kinh cố. Tiên vân “Đại thừa trang nghiêm kinh luận” giả phi dã, vô hữu “Đại thừa trang nghiêm kinh” cố。(Thành duy thức luận thuật ký, quyển 7 - Đại Chánh tạng, quyển 43, kinh số 1830 [0354a10])
4. ĐTK 1595, Thế Thân thích, Chân Đế dịch.
5. Luận viết: Phục hữu Đại thừa trang nghiêm kinh luận sở thuyết ngũ kệ vi hiển thử đạo. Thích viết: Kinh nghĩa thâm ẩn nan giải - Như thật hiển liễu kinh trung chánh nghĩa, cố danh trang nghiêm kinh luận. Luận giải thử kinh cố đắc trang nghiêm danh. Trang nghiêm kinh luận trung hữu chúng đa nghĩa. Kim đãn lược thủ ngũ kệ. Thử kệ dục hà sở hiển. Thử kệ vi hiển ư tu đạo trung nan giác liễu nghĩa. 論曰。 復有大乘莊嚴經論, 所說五偈為顯此道。 釋曰,經義深隱難解。如實顯了經 中正義,故名莊嚴經論。論解此經故得莊嚴名。莊嚴經論中有眾多義。今但略取五偈,此偈欲何所顯,此偈為顯於中難覺了義。
6. Đại học Ryukoku (Long Cốc Đại học, 龍谷大学, Ryūkoku Daigaku) là một trường đại học tư nhân nằm ở Kyoto, Nhật Bản. Nguyên thủy nó được thành lập như là một trường học cho các tu sĩ Phật giáo của giáo phái Nishi Hongan-ji năm 1639, và trở thành một trường đại học thế tục hóa vào năm 1876. Các giáo sư và sinh viên của trường đại học này thành lập tạp chí văn học nổi tiếng Chūōkōron vào năm 1887. Trường có ba cơ sở: Fukakusa và Omiya ở Kyoto, và Seta trong quận Shiga.
7. mahāyānasiddhi (21); II. saranagamana (12); III. gotra (13); IV. cittotpāda (28); V. pratipatti (11); VI. tattva (10); VII. prabhāva (10); VIII. paripāka (22); IX. bodhi (86); X. adhimukti(15); XI. dharmaparyesti (78); XII. desanā (24); XIII. pratipatti (29); XIV. avavādānusāsanl (51); XV. upāyasahitakarma (5); XVI. pāramitā (79); XVII. pūjāsevāpramāna (66); XVIII. bodhipaksa (104); XIX. guna (80); XX-XXI. caryāpratistha (61). (The Universal Vehicle Discourse Literature, Robert Thurman)
a. Duyên khởi (8); 2. Thành tông (17); 3. Quy y (12); 4. Chủng tánh (13); 5. Phát tâm (21); 6. Nhị lợi (11); 7. Chân thật (11); 8. Thần thông (10); 9. Thành thục (22); 10. Bồ-đề (80); 11. Minh tín (15); 12. Thuật cầu (74); 13. Hoằng pháp (24); 14. Tùy tu (29); 15. Giáo thọ (51); 16. Nghiệp bạn (5); 17. Độ nhiếp (59); 18. Cúng dường (5); 19. Thân cận (7); 20. Phạn trú (49); 21. Giác phần (87); 22. Công đức (65); 23. Hành trú (27); 24. Kính Phật (19).
8. ādi (6); 2. siddhi (15); 3. saranagamana (12); 4. gotra (13); 5. cittotpāda (28); 6. pratipatti (11); 7. tattva (10); 8. prabhāva (10); 9. paripāka (22); 10. bodhi (86); 11. adhimukti (15); 12. dharmaparyesti (78); 13. desanā (24); 14. pratipatti (29); 15. avavādānusāsanl (51); 16. upāyasahitakarma (5); 17. pāramitā (80); 18. pūjāsevāpramāna (66); 19. bodhipaksa (104); 20. guna (80); 21. caryäpratistha (61). (The Universal Vehicle Discourse Literature, Robert Thurman)
9. Robert Alexander Farrar Thurman (sanh ngày 03 tháng 8 năm 1941) là một nhà văn và giáo sư có ảnh hưởng lớn lao đối với Phật giáo Hoa Kỳ, là tác giả, dịch giả nhiều sách về Phật giáo Tây Tạng. Ông là giáo sư của trung tâm Tông Khách Ba (Jey Tsong Khapa) thuộc Viện nghiên cứu Phật giáo Ấn Độ - Tây Tạng (Indo-Tibetan Buddhist Studies) của phân khoa tôn giáo thuộc Đại học Columbia, là người đồng sáng lập và chủ tịch của Nhà truyền thống Tây Tạng (Tibet House) New York.
Quan tâm đặc biệt của ông là khám phá truyền thống tâm lý và triết học của Ấn Độ - Tây Tạng bằng cái nhìn phù hợp, song hành với tư tưởng và khoa học hiện đại. Sau khi học xong Đại học Philips Exeter và Harvard, ông đã học Tạng ngữ và Phật giáo Tây Tạng trong gần 30 năm. Ông là một học trò của đức Đạt-lai Lạt-ma.
Ông viết nhiều sách nghiên cứu cũng như phổ thông về Phật pháp, và có nhiều bài giảng trên toàn thế giới.
10. Bản Anh ngữ mang tựa đề “The Universal Vehicle Discourse Literature (Mahāyānasūtrālamkārā)” được American Institute of Buddhist Studies xuất bản năm 2004, ISBN 0-9753734-0-4, được ghi rõ là dịch sang Anh ngữ từ các bản tiếng Sanskrit, Tây Tạng và Trung Hoa với tên người dịch là các vị L. Jamspal, R. Clark, J. Wilson, L. Zwilling, M. Sweet, R. Thurman, nhưng trong đó thật ra R. Thurman là người giữ vai trò chính, những người khác tham gia đóng góp và hỗ trợ. (Translated from the Sanskrit, Tibetan, and Chinese by L. Jamspal, R. Clark, J. Wilson, L. Zwilling, M. Sweet, R. Thurman)
11. Bồ tát địa, thứ 15: 1. Chủng tánh; 2. Phát tâm; 3. Tự tha lợi; 4. Chân thật nghĩa; 5. Uy lực; 6 Thành thục; 7. Bồ-đề; 8. Lực chủng tánh; 9. Thí; 10. Giới; 11. Nhẫn; 12. Tinh tiến; 13. Tịnh lực; 14. Tuệ; 15. Nhiếp sự; 16. Cúng dường thân cận vô lượng; 17. Bồ-đề phần; 18. Bồ tát công đức.
12. Biện trung biên luận tụng (ĐTK 1601 - 辯中邊論頌, Madhyānta-vibhāga-kārikā): kệ tụng của Bồ tát Di-lặc, được giảng giải qua luận thích của Đại sĩ Thế Thân (ĐTK 1600 - 辯中邊論, Madhyānta-vibhāga).
13. Biện pháp pháp tánh luận (辨法法性論, Dharmadharmatā-vibhaṅga): kệ tụng của Bồ tát Di-lặc, Pháp sư Pháp Tôn (法尊) dịch ra Hán văn từ Tạng bản. Pháp sư Pháp Tôn là đệ tử của Thái Hư đại sư.
14. Theo quan niệm của người Hoa Hạ cổ đại, những dân tộc nằm ngoài vùng đất bản thổ của người Hoa Hạ là những dân tộc chưa biết văn hóa và luật lệ giữa con người; chưa có quy tắc ứng xử chung như nhân, lễ, nghĩa, trí, tín hoặc quân, sư, phụ; chưa biết phân định trên dưới, cha con, vợ chồng; chưa có biết dùng mũ, áo, các vật dụng khác nhau để phân biệt tầng lớp, giai cấp trong xã hội, và quan trọng nhất là chưa có luật pháp. Các dân tộc ở phía Bắc sông Hoàng Hà thì gọi là Rợ hoặc Địch. Các dân tộc ở phía Đông thì gọi là Di. Các dân tộc ở phía Tây thì gọi là Nhung. Các dân tộc ở phía Nam sông Trường Giang thì gọi là Man. Bắc Địch (北狄) có rợ Hung nô, rợ Kim, rợ Khiết Đan, rợ Đột Quyết, rợ Hồ. Người Rợ thường bị người Trung Nguyên cổ đại xem là các giống dân hung bạo.
15. Khả hãn Thống Diệp Hộ: Theo sách Từ An truyện, quyển 2, vị Khả hãn này từng hội kiến Huyền Trang tại thành Tố Diệp. Theo sách Thông giám, vào năm Trinh Quán thứ 2 (628), Thống Diệp Hộ bị người bác ruột giết, con là Diệt Lực Đặc Cẩn lên thay làm Khả hãn Thích Diệp Hộ. Vào năm Trinh Quán thứ 6 (632), Thích Diệp Hộ bị 2 bộ lại là Thiết Tỳ Đạt Quan và Nỗ Thạt Tất công kích bỏ chạy qua nước Khang Cư rồi chết.
16. ĐTK 402.
17. ĐTK 1566, kệ tụng của Bồ tát Long Thụ, luận thích của Bồ tát Phân Biệt Minh.
18. Xem phẩm Công đức, thứ 22.
19. Nghĩa trí: Nghĩa là Thắng nghĩa. Trí là tuệ giác. Thắng nghĩa, nói đủ là Thắng nghĩa đế tướng (sắc thái của chân lý tuyệt đối). Thắng nghĩa đế cũng gọi là đệ nhất nghĩa đế (chân lý bậc nhất), chân đế (chân lý chân thật); đối lại là thế tục đế (chân lý phổ thông), cũng gọi là thế đế hay tục đế (chân lý giả thiết). Ở đây, chân lý tuyệt đối chỉ cho pháp tánh (Tâm hay Như). Nghĩa trí là (bậc) tuệ giác thấu hiểu một cách đúng như sự thật về pháp tánh tách rời ngôn ngữ của các pháp.
20. Giải các nghĩa: Được hiểu qua đoạn kinh trong kinh Giải thâm mật: “Lúc ấy đại Bồ tát Như lý thỉnh vấn lại hỏi đại Bồ tát Giải thâm nghĩa ý: Tối thắng tử, như thế nào gọi là sự thể các thánh giả, bằng sự thấy biết rất thánh, tách rời ngôn ngữ nên thể hiện sự chánh biến giác (đối với pháp tánh), rồi chính nơi pháp tánh tách rời ngôn ngữ ấy, các ngài muốn làm cho người khác cũng thể hiện chánh biến giác, nên giả thiết ngôn từ mà hoặc nói là hữu vi, hoặc nói là vô vi?” Chánh văn nguyên câu này là “Nghĩa trí tác chư nghĩa”, là “giả thiết ngôn từ” để nói về nghĩa lý của các pháp (hữu vi hay vô vi), vì thế dịch là “Nghĩa trí giải các nghĩa.”
21. Chánh văn: [0590b11]莊嚴大乘經論,誰能莊嚴。(Trang nghiêm Đại thừa kinh luận, thùy năng trang nghiêm.)
22. Chứng minh có thức A-lại-da, luận Thành duy thức dẫn kệ tụng này, nhưng ngài Huyền Trang dịch có khác: “Lại nữa, Thánh Từ Thị! dùng bảy nhân sau đây để chứng minh kinh Đại thừa thật là do Phật nói: 1. Vì trước đó Phật không thọ ký: Nếu kinh Đại thừa là do những người sau khi đức Phật diệt độ, muốn phá hoại chánh pháp mà nói ra, thì tại sao Thế Tôn không dự ký trước, như Ngài từng dự ký các việc bố úy sẽ xảy ra? 2.
Vì vốn cùng lưu hành: Kinh đại, tiểu thừa giáo từ trước đến nay cùng lưu hành, vậy thì làm sao biết riêng kinh Đại thừa là không phải của Phật nói. 3. Vì không phải cảnh giới của người khác: Giáo lý Đại thừa rộng lớn rất sâu, không phải là cảnh giới của hàng ngoại đạo tư lường biết đến đưọc, trong kinh luận của họ chưa từng nói đến giáo lý Đại thừa, dẫu có nói cho họ nghe, họ cũng không tin thọ, cho nên kinh Đại thừa chẳng phải là người không phải Phật có thể nói được. 4.
Vì nên công nhận: Nếu bảo giáo lý Đại thừa do các đức Phật khác nói chứ không phải do đức Thích Ca nói, thế thì giáo lý Đại thừa là Phật nói, lẽ đó rõ ràng phải công nhận. 5. Vì lẽ có, không có: Nếu chấp nhận có giáo lý Đại thừa, thời nên tin giáo lý ấy là do Phật nói, vì ngoài kinh Đại thừa thì không có giáo lý Đại thừa. Nếu bảo không có giáo lý Đại thừa, thì giáo lý Thanh văn thừa cũng không có, vì ngoài Đại thừa giáo thì quyết định không biết nương vào đâu để thành Phật.
Không Phật thì ai ra đời giảng giáo lý Thanh văn thừa. Cho nên chỉ chấp nhận Thanh văn thừa giáo là Phật nói, mà chê bai Đại thừa giáo là không đúng lý. 6. Vì đối trị: Những người y theo Đại thừa giáo siêng năng tu hành, đều có thể đạt đến trí vô phân biệt, có khả năng chính thức đối trị tất cả phiền não.
Thế nên tin kinh Đại thừa là Phật nói. 7. Vì nghĩa khác văn: Giáo lý Đại thừa ý thú rất sâu sắc, không thể theo văn thủ nghĩa nói, rồi sanh tâm phỉ báng cho là không phải Phật nói. Do các lý như trên nên biết kinh Đại thừa thật do Phật nói.
Như trong luận Trang nghiêm có bài tụng tóm tắt nghĩa trên: Trước chẳng ký, cùng lưu hành / Không phải cảnh giới ngoại đạo/ Đồng công nhận có, không có/ Đối trị và nghĩa khác văn. (先不記俱行/ 非餘所行境/ 極成有無有/ 對治異文故, Tiên bất ký câu hành/ Phi dư sở hành cảnh/ Cực hành hữu vô hữu/ Đối trị dị văn cố)” (Thành duy thức luận, H.T Thích Thiện Siêu dịch)
23. Bộ phái Tiểu thừa cho rằng Đại thừa là phi Phật thuyết, Đại thừa không là gì khác hơn chính là Tiểu thừa, thậm chí Đại thừa là luận thuyết của ngoại đạo.
24. Bậc chứng đắc bồ-đề nói có Đại thừa, đức Phật Thích Ca cũng chứng đắc bồ-đề, cho nên chắc chắn đức Phật có nói Đại thừa.
25. Không hợp nghĩa lý vì Thanh văn thừa chỉ cần tịnh trừ phiền não mà chứng giải thoát thân, nhưng Đại thừa thì ngoài giải thoát thân, mục tiêu chính là pháp thân, tức trí thân hay quả đại bồ-đề.
26. Dạy bảo lợi người là làm cho người phát tâm Vô thượng bồ-đề và độ khắp tất cả chúng sanh.
27. Kinh Tín, số 47, Tạp A Hàm: “Thiện nam có lòng tin, cần suy nghĩ như vầy: “Ta nên thuận theo pháp. Ta hãy an trụ với sự tu tập, tu tập nhiều, về yểm ly đối với sắc; an trụ với sự tu tập, tu tập nhiều, về yểm ly đối với thọ, tưởng, hành, thức.” Thiện nam tử có lòng tin bèn an trụ với sự tu tập, tu tập nhiều, về yểm ly đối với sắc; an trụ với sự tu tập tu tập nhiều, về yểm ly đối với thọ, tưởng, hành, thức, nên đối với sắc được yểm ly; đối với thọ, tưởng, hành, thức được yểm ly. Do yểm ly mà ly dục, giải thoát, giải thoát tri kiến, biết rằng “Ta, sự sanh đã dứt, phạn hạnh đã lập, những gì cần làm đã làm xong, tự biết không còn tái sanh đời sau nữa.”” (Thích Đức Thắng dịch)
28. Đại Trí độ luận, quyển 23, chương 34, Giải thích mười tưởng: “Người ngu si nhiều thì sự mong cầu không theo đạo lý, không rõ sự duyên, như vắt sừng tìm sữa, bị vô minh che lấp, tuy mặt trời chiếu sáng mà vĩnh viễn không thấy gì.” (H.T Thích Thiện Siêu dịch) Kinh Bách dụ, phần 8, số 77, Tìm sữa: “Thuở xưa có những người ở tại biên thùy, chưa hề biết con lừa ra sao cả, dù có gặp tận mặt cũng không nhận ra. Nghe người ta đồn sữa lừa ngon tuyệt, nhưng bọn họ không ai biết lừa, cũng không biết phương pháp nào để tìm cho ra sữa.
Sau đó bọn họ chia nhau đi tìm, kết quả tìm được một con lừa đực. Bây giờ cả bọn tranh nhau, ai cũng muốn uống sữa trước: Có người cắn trên đầu lừa, có người nút tai, có người nút đuôi, có người dở chân, tin rằng sữa sẽ từ những chỗ ấy chảy ra. Nhưng bọn họ đều thất vọng, không uống được một tí sữa lừa.” (Thích Nữ Như Huyền dịch)
29. Ba đời được giải thoát (tam sanh đắc giải thoát): Câu xá luận, quyển 23, phẩm Phân biệt hiền thánh: “Thuận quyết trạch phần ở đời này sanh khởi thì ắt đời trước đã sanh khởi thuận giải thoát phần. Ở trong các hữu gieo trồng thuận giải thoát phần, (tu tập) cực kỳ mau chóng thì ba đời được giải thoát, nghĩa là: đời đầu tiên khởi thuận giải thoát phần, đời thứ hai khởi thuận quyết trạch phần và đời thứ ba nhập thánh đạo, cho đến được giải thoát. Giống như sự gieo hạt, tăng trưởng và cho quả là ba giai đoạn khác nhau, cũng vậy, bản thân nhập vào pháp tánh, thành thục và giải thoát là ba giai đoạn khác nhau.”
30. Tu đa la (sutra) là khế kinh, tức kinh điển hợp với chân lý và hợp với tâm lý, gọi là khế lý khế cơ. Trong mỗi một bộ kinh Phật đều nói thẳng pháp nghĩa, nhưng pháp nghĩa của kinh này hay pháp nghĩa của kinh kia đều hỗ tương khế hợp, không có mâu thuẫn.
31. Tỳ ni (vinaya) dịch là thiện trị, nghĩa là khéo tự trị tất cả ác, lại dịch là điều phục, nghĩa là điều luyện ba nghiệp, ngăn phục lỗi quấy. Tỳ ni còn được hiểu là diệt, nghĩa là diệt trừ tất cả chủng loại phiền não, lầm lỗi nhờ tu hành tùy thuận theo pháp nghĩa của Phật dạy.
32. Pháp không: là các pháp đều không, nghĩa là các pháp không có đặc tánh cố định. Do không có đặc tánh cố định nên nhiễm ô có thể hủy diệt, thanh tịnh có thể thích ứng hay khổ có thể tiêu diệt, vui có thể kiến thiết.
33. Tất cả pháp không có tự tánh (nhất thiết pháp vô tự tánh): Nhiếp luận ghi: “Tự nhiên, tự thể không, tự tánh không kiên trú, như chấp thủ không có, nên nói vô tự tánh”. Các pháp không có tự tánh là vì: 1.
Không phải tự nhiên mà sanh ra: do tất cả pháp không rời các duyên mà tự nhiên có đặc tánh, như pháp vị lai thì sanh ở vị lai, ắt phải đợi duyên, nhất định không thể tự nhiên sanh, cho nên không có tự tánh; 2. Tự thể đã không: do pháp quá khứ đã diệt mất, không sanh trở lại nữa, cho nên không có tự tánh; 3. Tự tánh không kiên trú (:cố định): do pháp vừa mới sanh, trong một sát-na sau không có cái lực để có thể trú ở, nói cách khác, pháp hiện tại sanh diệt không dừng theo sự lưu chuyển của nhân quả ba đời nên vô tự tánh.
Quan điểm của các kinh trong A hàm về các pháp là như vậy, vì thế Nhiếp luận cho đó là pháp chung với tiểu thừa. “Như chấp thủ không có, nên nói vô tự tánh”, đây là luận theo biến kế vô tự tánh: nếu đối với tất cả pháp mà chấp tự tướng, cộng tướng, ngã tướng, pháp tướng đều là theo tên lập nghĩa, y nghĩa lập tên, là giả danh lập bày, chẳng phải là tự tướng hữu. Rời xa cả cái phi tự tướng hữu của tánh biến kế này tức là cái không vô tự tánh của Đại thừa.
Đại thừa nói các pháp đều là vô tự tánh, và do vô tự tánh nên các pháp thành tựu, nghĩa là các pháp vô tự tánh nên không có thật sanh, do vô sanh nên cũng không có thật diệt, vô sanh diệt nên các pháp “bản lai tịch tịnh, tự tánh niết bàn”.
34. Chánh văn là phi Phật ngữ, nhưng cần phải dịch như vậy, vì căn cứ Nhiếp luận nói Phật ngôn có 4 ý thú và 4 bí mật, và vì sự dạy bảo về các pháp vô tự tánh của hàng thanh văn là thiếu sót, chưa đúng mật ý của Phật, chứ không phải không đúng.
35. Kinh Thanh tịnh tỳ ni phương quảng: “Tự đoạn tất cả phiền não và kiết sử cho chính mình, là tỳ ni của thanh văn, còn muốn đoạn tất cả phiền não của tất cả chúng sanh, là tỳ ni của Bồ tát.”
36. Người kế đạc (thốn đạc nhân): là người có trí tuệ, có khả năng tư duy, phân biệt, chỉ cho hàng phàm phu và hàng nhị thừa.
37. Trí tuệ chứng đắc: chỉ cho trí tuệ văn tư tu chứng, trí tuệ chứng chân thật nghĩa.
38. Những loại trí khác nhau: là trí tuệ có được do học ở chỗ này một chút, chỗ kia một chút, tham tạp rất nhiều nhưng không có sự khẳng quyết, nhất là không tin Đại thừa, thậm chí phỉ báng Đại thừa, đến nỗi 1 ngàn năm sau mới tin tưởng Đại thừa.
39. Chỉ cho trí tuệ của phàm phu, không thể vượt qua thế tục đế vì còn hư vọng phân biệt 6 trần, không thể tiếp cận đệ nhất nghĩa đế vì không lìa tất cả tướng, không thể lý giải nghĩa lý Đại thừa rộng sâu nên không thể phát sanh đức tin Đại thừa.
40. Như người học Phật pháp, căn cứ trên văn tự giảng giải từng điểm của 5 đức, 12 nhập, 18 giới, 12 duyên khởi, 37 đạo phẩm v.v… nhưng không thể thông suốt toàn bộ Phật pháp.
41. Cái khối lớn không phước: chỉ cho tội hủy báng Đại thừa.
42. Cũng có nghĩa là ba đời chư Phật đều giảng thuyết pháp không.
43. Chân như: là nghĩa vô sai biệt, nghĩa là các pháp do tất cả nhân duyên tạo thành nên có các sắc thái khác nhau, nhưng chỉ có tự tánh không của các pháp không có sai biệt, nên gọi là như. Pháp tánh: là nghĩa bất biến, nghĩa là các pháp do tất cả nhân duyên tạo thành, xét theo thời gian thì các pháp sanh diệt biến hóa trong từng sát-na, nhưng chỉ có tánh không của các pháp mới thường hằng bất biến, nên gọi là pháp tánh. Thật tế: là nghĩa không có hư vọng, nghĩa là trên bình diện đế lý chân thật thì không thủ chấp một mảy bụi trần, tất cả các pháp đều là cứu cách không tịch, chân thật không có hư dối.
44. Chỉ cho văn tuệ.
45. Chỉ cho tư tuệ.
46. Cái trí về chánh pháp (chánh trí), đồng nghĩa với chánh pháp trí: là trí tuệ nhận thức được chánh pháp, là trí tuệ chứng chân như, do tu hành mà được nên thuộc về tu tuệ.
47. Cảnh giới chân thật, tức chân thật nghĩa: là đệ nhất nghĩa đế, là ly ngôn, vô phân biệt, ly tất cả văn nghĩa và tất cả tướng.
48. Pháp quả: Ở kiến đạo vị, Đại thừa thì chứng đắc hoan hỷ địa; tiểu thừa thì chứng đắc quả Tu-đà-hoàn. Ở tu đạo vị, Đại thừa thì chứng đắc nhị địa, tam địa cho đến thập địa; Tiểu thừa thì chứng đắc các quả Tư-đà-hàm, A-na-hàm và A-la-hán.
49. Giải thoát trí: Với thanh văn là trí chứng niết bàn, như kinh Xà dụ, Trung bộ có ghi: “Trong sự giải thoát khởi lên sự hiểu biết: “Ta đã giải thoát”. Vị ấy biết: “Sanh đã tận, Phạn hạnh đã thành, những gì nên làm đã làm, không còn trở lui lại đây với một đời sống khác”.” Với Bồ tát là trí huệ biết rõ tất cả cảnh giới của thiền định, tam-muội, mọi cấp dạng của sự giải thoát, là trí tuệ nhận thức về sự giải thoát của người khác hay ấn chứng sự giải thoát cho người khác.
50. Kinh Trung bộ, số 63, Tiểu kinh Màlunkyà, kể trường hợp tôn giả Malunkyaputta thưa hỏi đức Phật 10 câu hỏi cổ điển danh tiếng về những vấn đề siêu hình và xin đức Phật trả lời, nếu Phật không biết thì cứ nói thẳng ra là: “Ta không biết, ta không thấy rõ”. Đức Phật giải thích cho tôn giả Malunkyaputta rằng, đời sống Phạn hạnh không phụ thuộc vào những quan niệm siêu hình: vũ trụ trường tồn hay không trường tồn v.v…, vì dù người ta có quan niệm thế nào về những vấn đề ấy thì vẫn có sanh, già, bịnh, chết, ưu bi, khổ não.
Phật chỉ trả lời về khổ, tập, diệt, đạo: “Và này Malunkyaputta, điều gì Ta trả lời? “Đây là khổ”, này Malunkyaputta là điều Ta trả lời. “Đây là khổ tập” là điều Ta trả lời.
“Đây là khổ diệt” là điều Ta trả lời. “Đây là con đường đưa đến khổ diệt” là điều Ta trả lời. Và này Malunkyaputta, vì sao điều ấy Ta trả lời?
Này Malunkyaputta, vì điều ấy có liên hệ đến mục đích, điều ấy là căn bản Phạn hạnh, điều ấy đưa đến yểm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, niết bàn, vì vậy điều ấy Ta trả lời. Do vậy, này Malunkyaputta, hãy thọ trì là không trả lời những điều Ta không trả lời. Hãy thọ trì là trả lời những điều Ta có trả lời.”
51. Chánh văn là: Nhược nhữ ngôn Phật giải diệc bất thâm, như kỳ giải thâm, hà cố thuyết thâm (若汝言佛解亦不深,如其解深,何故說深). Theo học giả Sylvain Lévi, Mahāyāna sūtrālaṃkāra, Exposé de la doctrine du Grand Véhicule, đoạn này được dịch là: Si on s’effraie en se disant: “Un Bouddha même ne comprend pas une question profonde, qu’aurait-il donc de profond à enseigner?”, c’est un tort. (Nếu người ta sợ hãi nghĩ rằng: “Phật còn không hiểu nổi một câu hỏi có chiều sâu, vậy thì Phật có sự uyên thâm gì để dạy bảo?” Đó là một sai lầm.)
52. Giới (界) là tên gọi khác của chủng tử. Kinh Đại thừa A tỳ đạt ma (chưa có Hán dịch), dẫn bởi Nhiếp luận thích, có bài chỉnh cú sau đây: Vô thỉ thời lai giới/ Nhất thiết pháp đẳng y/ Do thử hữu chư thú/ Cập niết bàn đắc chứng. (Giới từ vô thỉ đến nay, là sở y của hết thảy pháp. Do đó mà có sự luân hồi trong mọi đường lành đường dữ và có sự chứng đắc niết bàn.)
53. Pháp vô thượng được thành tựu vì có đức tin Đại thừa, chủng tử Đại thừa và quyến thuộc Đại thừa.
54. Tự tánh tội: còn gọi là tánh giới, hễ phạm vào điều này thì quyết định sa vào đường dữ.
55. Tạng bản là phẩm Thành lập Đại thừa, thứ 2.
56. Đại nghĩa: thành tựu lợi mình và lợi người. Kinh Giải thâm mật: “Thành tựu lợi ích chân thật và vĩ đại (đại nghĩa), được tâm trí xuất thế mà trước đây chưa được, sanh hoan hỷ lớn lao, nên địa đầu tiên tên là Cực hỷ địa.” (H.T Thích Trí Quang dịch)
57. Lưu nạn: là làm điều gì gây khó khăn cho người, như tà ma đến gây chướng nạn cho sự tu hành. Kinh Đại bát niết bàn: “Thiên ma ở tầng trời Dục giới thứ 6 thường đến chỗ Phật gây chướng nạn”. Ở đây, người không có chủng tánh Đại thừa thì có thể lưu nạn cho Phật pháp.
58. Danh văn: tức danh tiếng. Như bài chỉnh cú trong kinh Pháp hoa, phẩm Ngũ bách đệ tử thọ ký: “Thường phóng ánh sáng lớn/ Đầy đủ các thần thông/ Danh tiếng khắp mười phương/ Được chúng sanh tôn kính/ Thường thuyết đạo Vô thượng/ Nên hiệu là Phổ minh” (Thường phóng đại quang minh/ Cụ túc chư thần thông/ Danh văn biến thập phương/ Nhất thiết chi sở kính/ Thường thuyết Vô thượng đạo/ Cố hiệu vi Phổ minh). Thập trụ tỳ bà sa luận, quyển 17: “Giới là nhân tố của danh văn, như thông suốt các kinh điển, có danh tiếng tốt đẹp” (Thi la thị danh văn nhân, như thông chư kinh, hữu hảo danh xưng).
59. Tức kết quả của thệ nguyện và công hạnh lợi người.
60. Xem phẩm Hành trú thứ 23: “Bồ tát có năm sắc thái: 1. Thương xót; 2.
Lời nói từ ái; 3. Mạnh mẽ; 4. Mở bàn tay; 5.
Giải thích nghĩa lý.” Trong đó, mạnh mẽ, là không thoái lui, khuất phục trước những khổ hạnh khó làm. Nhiếp luận nói đến 10 việc khó làm của Bồ tát: “Mười việc khó làm, một là tự thệ nguyện: thệ nguyện thụ đắc Vô thượng bồ-đề; hai là không thoái lui: những cái khổ sanh tử không thể làm cho thoái lui; ba là không ruồng bỏ: không ruồng bỏ những kẻ làm theo tà hạnh; bốn là khó trước mắt: kẻ thù mà vẫn làm lợi ích cho họ; năm là không nhuốm bẩn: sống với đời mà không bị việc đời làm hôi tanh; sáu là tin khó hiểu: tuy chưa hiểu Đại thừa mà vẫn tin giáo pháp rộng lớn sâu xa; bảy là thông khó thông: thông suốt nhân vô ngã và pháp vô ngã; tám là hiểu khó hiểu: hiểu được những ngôn từ sâu xa bí mật của đức Như lai tuyên thuyết; chín là không bỏ nhiễm: không bỏ sanh tử mà không nhiễm sanh tử;
mười là làm khó làm: tu được sự giải thoát chướng ngại của Phật, cùng tận biên cương của sanh tử mà vận dụng tự nhiên, thường xuyên làm việc nghĩa lợi cho chúng sanh.” (H.T Thích Trí Quang dịch)
61. Viên giác không có đẳng cấp tu chứng. Đẳng cấp tu chứng chỉ do công phu đang và đã hủy diệt vô minh huyễn ảo mà có. Kinh Viên Giác: “Bản thể viên giác không phải là các chủng tánh, nhưng chủng tánh nào cũng có viên giác, nên tùy các chủng tánh phát khởi mà có sai biệt, chứ thật ra không có thủ chứng gì hết.” (H.T Thích Trí Quang dịch)
62. Tông kính lục (宗鏡録), quyển 87, có trích dẫn đoạn này (Đại Chánh tạng - tập 48, kinh số 2016, trang 0894a13). Thiện sanh (sự sanh ra trong những điều kiện tốt) đồng nghĩa với sanh thắng (sanh vị thù thắng). Phẩm Phát tâm có nhắc lại: [0596b04] Sanh thắng do bốn nghĩa: 1. Chủng tử thù thắng, là lấy sự tin hiểu pháp Đại thừa làm chủng tử; 2. Sanh mẫu thù thắng, là lấy trí tuệ ba-la-mật làm sanh mẫu; 3. Thai tạng thù thắng, là lấy sự hỷ lạc của đại thiền định làm thai tạng; 4. Nhũ mẫu thù thắng, là lấy sự trưởng dưỡng tâm đại bi làm nhũ mẫu.
63. Bồ Tát ở địa thứ 10, tức Pháp vân địa, là hạ phẩm tịch diệt nhẫn, Bồ tát Đẳng giác là trung phẩm tịch diệt nhẫn, Bồ tát Diệu giác là thượng phẩm tịch diệt nhẫn.
64. Tạp a hàm, kinh Diêm phù xa, số 490: “Nếu thuyết pháp mà điều phục dục tham, điều phục sân nhuế, điều phục ngu si; đó gọi là vị khéo thuyết pháp.” (Thích Đức Thắng dịch)
65. Đây là tác dụng của niệm căn. Phật Bát nê hoàn kinh: “Khi đứng hay ngồi tâm không quên kinh pháp thì chánh pháp được lâu dài.” (Thích Chánh Lạc dịch)
66. Sự an lạc tối thượng là niết bàn, và là niết bàn vô trú của Đại thừa.
67. Huân tập tụ: chỉ cho thức a-lại-da. A-lại-da là tánh y tha. Y tha là tổng thể của tánh biến kế và tánh viên thành của nhiễm pháp và tịnh pháp. Nhiếp luận: “Sanh tử là phần tạp nhiễm nơi y tha, niết bàn là phần thanh tịnh nơi y tha, chỗ dựa của hai phần là y tha. Chuyển y là chính y tha khi nổi lên sự đối trị thì chuyển bỏ phần tạp nhiễm mà chuyển được phần thanh tịnh.” (H.T Thích Trí Quang dịch)
68. Đại thể, là bản thể vĩ đại (của Đại thừa): chính là cương yếu của Đại thừa hay nghĩa lý thù thắng của Đại thừa. Nghĩa lý thù thắng ấy được Nhiếp luận dẫn kinh Đại thừa A tỳ đạt ma qua 10 tiết mục: “Trong kinh Đại thừa a tì đạt ma, trước đức Thế tôn, các vị Bồ tát đã khéo ngộ nhập Đại thừa, vì biểu thị Đại thừa bản thể vĩ đại (Đại thừa đại thể), nên nói rằng căn cứ vào Đại thừa mà chư vị Thế tôn có 10 ngôn ngữ thù thắng nói về 10 tiết mục thù thắng: một là căn cứ của các pháp sở tri, hai là sắc thái của các pháp sở tri, ba là ngộ nhập các pháp sở tri, bốn là nhân quả của sự ngộ nhập ấy, năm là sự tu tập về nhân quả ấy, sáu là giới tăng thượng trong sự tu tập, bảy là định tăng thượng trong sự tu tập, tám là tuệ tăng thượng trong sự tu tập, chín là đoạn đức của sự tu tập,
mười là trí đức của sự tu tập.” (H.T Thích Trí Quang dịch)
69. Đại nghĩa là 4 đại nghĩa đã và đang nói trong phẩm này.
70. Niết bàn của nhị thừa thì hữu tận vì xả bỏ sanh tử. Niết bàn của Đại thừa thì vô tận, vì không xả bỏ sanh tử, không trú niết bàn. Bồ tát lấy chúng sanh để tu hành vạn thiện, vì chúng sanh vô tận nên thiện căn cũng vô tận. Vì vậy, niết bàn ở đây được hiểu là niết bàn vô trú.
71. Hạnh xuất ly: xuất ly sanh tử, chứng nhập niết bàn. Nói đến hạnh xuất ly thì phải nói đến đạo xuất ly của bậc Thánh, như Thành thật luận nói: “Thánh đạo có khả năng hủy diệt tất cả kiết sử.” Căn cứ theo kinh Đại bảo tích, Pháp hội Bồ tát tạng, phẩm Như lai bất tư nghị tánh, có ghi: “Lại này Xá lợi phất! Đức Như Lai Ứng cúng Đẳng chánh giác thành tựu trí lực vô thượng ở giữa đại chúng tuyên bố rằng Phật nói đạo chân chánh hết khổ của thánh xuất thế đã tu, nếu hữu tình nào tu tập đạo ấy thì quyết định giải thoát.” Đó là 1 chánh thú đạo, 2 chỉ và quán, 3 giải thoát môn, 4 niệm trú, 5 căn, 6 chánh niệm, 7 bồ-đề phần, 8 chánh đạo, 9 pháp căn bản vui thích, 10 nghiệp đạo lành.
72. Sự được thế tục là phát tâm bồ-đề còn trong phạm vi thế tục (thế tục thọ phát tâm), nghĩa là những vị phát tâm bồ-đề mà chưa nhập kiến đạo. Sự được pháp tánh là phát tâm bồ-đề chứng đắc pháp tánh (đắc pháp tánh phát tâm), nghĩa là những vị phát tâm bồ-đề đã nhập kiến đạo. Du già sư địa luận kể 10 thứ phát tâm: phát tâm thế tục thọ, phát tâm đắc pháp tánh, phát tâm không quyết định, phát tâm quyết định, phát tâm chưa thanh tịnh, phát tâm thanh tịnh, phát tâm yếu kém, phát tâm mạnh mẽ, phát tâm chưa thành quả, phát tâm đã thành quả.
73. Thường thường: chánh văn là số số. Trí độ luận, quyển 22: “Phật khất thực tại thành Xá-bà-đề, có người Bà-la-môn tên Bà-la-đỏa-thệ. Phật thường thường đến nhà ấy khất thực, Bà-la-môn nghĩ rằng: Sao Sa-môn này đến hoài, như ta nợ ông ấy? Khi ấy Phật nói kệ: Thường thường mưa đúng thời/ Ngũ cốc thường thường thành/ Thường thường tu phước nghiệp/ Thường thường thọ quả báo/ Vì thường thường thọ sanh/ Nên thường thường thọ tử/ Chánh pháp thường thường thành/ Ai thường thường sanh tử.” (H.T Thích Thiện Siêu dịch)
74. Đa dạng giới: chánh văn là chủng chủng giới. Giới (界) là tên gọi khác của chủng tử, tức chủng tử của thức a-lại-da. Kinh Đại thừa A tỳ đạt ma (chưa có Hán dịch) có bài chỉnh cú, dẫn bởi Nhiếp luận thích: “Giới, từ vô thỉ đến nay, là sở y của hết thảy pháp. Do đó mà có sự luân hồi trong mọi đường lành đường dữ và có sự chứng đắc quả niết bàn.” (Vô thủy thời lai giới/ Nhất thiết pháp đẳng y/ Do thử hữu chư thú/ Cập niết bàn chứng đắc, 無始時來界, 一切法等依, 由此有諸趣, 及涅槃證得)
75. Kinh Đa giới (Bahudhātuka-sūtra) là kinh số 115 của Trung bộ kinh hay kinh số 181 của Trung a hàm. Về giới, kinh Đa giới nói đến: 18 giới: nhãn, sắc, nhãn thức, nhĩ, thanh, nhĩ thức, tỷ, hương, tỷ thức, thiệt, vị, thiệt thức, thân, xúc, thân thức, ý, pháp và ý thức; 6 giới: địa, thủy, phong, hỏa, không và thức; 6 giới: lạc, khổ, hỷ, ưu, xả và vô minh; 6 giới: dục, ly dục, sân, vô sân, hại và bất hại; 3 giới: dục giới, sắc giới và vô sắc giới; 2 giới: hữu vi giới và vô vi giới.
76. Tuệ giác của chư vị thánh giả hết mê mới gọi là bồ-đề. Thánh giả hết mê có thể phân ra 3, nên bồ-đề có 3 loại khác nhau, đó là Thanh văn bồ-đề (bậc thấp), Độc giác bồ-đề (bậc vừa) và Vô thượng bồ-đề (bậc cao).
77. Minh tịnh: thuần khiết và trong suốt, là tâm siêu thoát chướng ngại (phiền não chướng và sở tri chướng), tách rời trạng huống hóa hợp với nhiễm pháp nên được tuệ giác minh tịnh. Kinh Thập trú: “Thâm tâm kính cúng thầy, như thuyết vui tu hành, tri ân cùng báo ân, chuyển hóa không sân hận, không có tâm cong vạy, nhu hòa vui chỉ quán, tu tập pháp như vậy, tinh tiến không thoái chuyển. Bồ tát trú như vậy, thâm tâm và trực tâm, tịnh tâm và tín giải, đều chuyển đắc minh tịnh, tăng trưởng các thiện căn; cấu trược, nghi, hối pháp, như vậy thảy các sự, đều được trừ diệt hết.”
78. Chủng tánh của nhị thừa chỉ có đàn áp phiền não chướng, chưa có đàn áp sở tri chướng, nên chưa nhập chủng tánh Bồ tát.
79. Chỉ cho chủng tánh phàm phu và ngoại đạo.
80. Chánh văn là dư nhân thiện căn (thiện căn của bậc khác với nhân loại), được hiểu là hàng nhị thừa.
81. Kinh Pháp hoa, phẩm Tín giải, thứ 4, tôn giả Tu bồ-đề thưa với Phật: “Bạch đức Thế tôn, chúng con ở vào địa vị đứng đầu chư tăng, tuổi cùng già cả, ai cũng tự cho đã được niết bàn, không kham làm gì được nữa, không thể bước tới mà cầu tuệ giác vô thượng. Trước đây, mỗi khi đức Thế tôn thuyết pháp lâu, thì chúng con lúc ấy cũng ngồi tại chỗ nghe pháp, nhưng cơ thể mệt mỏi, chỉ nghĩ nhớ về không, không sắc tướng và không ưa thích (không, vô tướng và vô nguyện).
Còn đối với pháp Bồ tát, như thần thông du hóa mà làm sạch thế giới làm nên chúng sanh, thì chúng con không có ý gì thích thú. Như vậy là vì đức Thế tôn đã làm cho chúng con thoát ba cõi, chứng niết bàn, thêm nữa tuổi chúng con đã già cả, nên đối với tuệ giác vô thượng mà đức Thế tôn dạy cho Bồ tát, chúng con không có một ý niệm ham thích.” (H.T Thích Trí Quang dịch)
82. Nơi hiện tượng, mỗi một hữu thể cá biệt tự giữ được tự tánh riêng, làm đối tượng cho sự nhận thức biết nó là nó. Nơi bản thễ, thật tướng của hữu thể là không, không có giới hạn, không có phần vị sai biệt.
83. Nhẫn chịu tất cả là nhẫn chịu oán hại, nhẫn chịu khổ cực và nhẫn chịu chân lý. (Kinh Giải thâm mật)
84. Đồ dùng cần thiết bao gồm đồ ăn, đồ mặc, đồ nằm và dược phẩm. Thiếu thốn là do không tu bố thí.
85. Do phải trải qua khoảng thời gian lâu xa tính bằng số kiếp mới đạt đến niết bàn, nên gọi là vô chủng tánh vị, chứ không nói là hoàn toàn không có đạt đến niết bàn.
86. Du già sư địa luận cho rằng hữu tình tu học thánh đạo, có khả năng chứng đắc niết bàn, được y cứ trên chủng tử hay chủng tánh, vì vậy mà có 2 hạng người: 1. Trú chủng tánh bổ đặc già la; 2.
Trú vô chủng tánh bổ đặc già la. Bổ đặc già la (pudgala) được dịch là người, chúng sanh, hay sác thủ thú, tức chỉ cho cái chủ thể chuyển sanh trong luân hồi. Hạng trú vô chủng tánh bổ đặc già la do có chủng tánh quyết định, nên không luận người ấy nỗ lực thế nào, vĩnh viễn không thể chứng đắc niết bàn.
Hạng trú vô chủng tánh này, trong kinh điển gọi là nhất xiển đề, là hạng không có chủng tánh niết bàn. Hạng nhất xiển đề này không có tín tâm để tin rằng có sự giải thoát nên không hề có ý hướng về sự nhập niết bàn. Nhóm chủng tánh này cũng được chia thành hai loại: 1.
Người đoạn thiện căn do không có một chút gốc rễ thiện gì để có thể tin tưởng có giải thoát và niết bàn; 2. Bồ tát do đại bi nên vĩnh viễn không hề có ý hướng niết bàn.
87. Như chuyện vua A-xà-thế và chuyện Ương-quật-ma-la. Hai vị này được xếp là hữu tình vô chủng tánh vị, nhưng kỳ thật là có chủng tánh, khi nhân duyên thành tựu, vẫn có thể chứng đắc niết bàn.
Vua A-xà-thế (Ajatasatru), con vua Tần-bà-sa-la (Binsbisara), xứ Ma-kiệt-đà (Magadha), bạn với Đề-bà-đạt-đa (Devadatta). Ông cầm tù cha mẹ, lên ngôi thôn tính các tiểu quốc, dựng nền móng thống nhất Ấn Độ. Vì tội hại cha mà cả mình nổi mụt (ung thư).
Nhưng đến Phật sám hối thì lành, nên qui y Ngài. Ông là hộ pháp cho cuộc kiết tập pháp tạng lần thứ nhất. Ương-quật-ma-la (Angulimalaya) theo tà thuyết giết người được niết-bàn.
Ông giết được 999 người, cắt mỗi người 1 ngón tay, kết vòng đội trên đầu. Thiếu 1 người mới đủ số phải có là 1000, nên ông đuổi giết mẹ. Phật thương ông mà cứu và thuyết pháp cho.
Ương-quật sám hối, xuất gia, đắc quả la-hán liền.
88. Chỉ cho giai đoạn tu tập thắng giải, tức địa vị thập tín.
89. Đây là giai đoạn tu tập thắng nhẫn (chánh văn là cực nhẫn). Nhẫn là nhẫn chịu, chấp nhận, thể nhận. Thắng nhẫn là vô sanh pháp nhẫn, tức là thể hội pháp tánh vô sanh, vượt qua địa vị Thắng giải hành (vô số kiếp thứ nhất, gồm 10 tín, 10 trú, 10 hướng và 4 gia hành) mà nhập vào chánh tánh ly sanh của Bồ tát [vô lậu tuệ (chánh tánh) đoạn trừ phiền não (ly sanh) ở kiến đạo vị của Bồ tát]. Bồ tát tu tập giải và thắng nhẫn bằng 10 pháp hạnh: 1. Sao chép; 2. Hiến cúng; 3. Chuyền cho; 4. Nghe nhận; 5. Dở đọc; 6. Chỉ dạy; 7. Phúng tụng; 8. Giảng nói; 9. Suy nghĩ; 10. Tu tập. Bồ tát được vô sanh pháp nhẫn thì không còn thoái chuyển, vào địa vị bất thoái (A bệ bạt trí: không thoái chuyển).
90. Chỉ cho vô số kiếp thứ 2 và thứ 3, tu hành 10 địa cho đến thành tựu viên mãn Vô thượng bồ-đề.
91. Tự tánh: là chí nguyện mong cầu tuệ giác vô thượng, là quyết định sẽ chứng được tuệ giác vô thượng, là hạnh nguyện muốn làm lợi ích yên vui cho tất cả chúng sanh, là nỗ lực tinh tiến tu tập các pháp bồ-đề phần và 6 ba-la-mật để đạt đến viên mãn.
92. Tánh đức viên mãn tánh: Pháp thân Phật là do công đức tu tập trí đức viên mãn. Pháp thân ấy có vô lượng công đức như 10 lực, 4 vô úy, 18 bất cộng v.v…, là những công đức mà hàng nhị thừa không thể có được. Pháp thân có nghĩa là cái thân có vô số pháp công đức.
93. Cây cát tường: tên khác của cây bồ-đề.
94. Nguyên văn: dũng mãnh đại, cũng đồng nghĩa như đại tinh tiến.
95. Tinh tiến phát thệ nguyện rộng lớn (hoằng thệ tinh tiến): là 1 trong 3 sự tinh tiến của người xuất gia và tại gia: 1. Tinh tiến hoằng thệ; 2. Nhiếp các thiện pháp; 3. Lợi ích chúng sanh. Bồ tát Địa trì kinh, quyển 6, phẩm Bồ tát Địa trì phương tiện xứ nhẫn: “Tinh tiến hoằng thệ là Bồ tát trước tiên phát khởi tinh tiến phương tiện, hoạch định khả năng trang bị áo giáp hoằng thệ, khởi ý niệm rằng: Tôi vì nhân duyên thoát khổ cho một chúng sanh mà lấy trăm ngàn đại kiếp làm một ngày đêm, với số ức trăm ngàn đại kiếp như vậy ở trong địa ngục, cho đến khi thành Phật, thề không thoái chuyển, nếu không được Vô thượng bồ-đề thì trọn không xà bỏ tinh tiến, nói chi chịu một chút khổ sở trong một thời gian ngắn mà xả bỏ tinh tiến.”
96. Tinh tiến thực hành chánh pháp đưa đến sự tín giải chánh pháp, nhờ đó khai mở tuệ giác phương tiện.
97. Đại nghĩa, là nghĩa lợi cho mình và cho người khác.
98. Luận Đại thừa trang nghiêm kinh, quyển 9, phẩm Phạn trú: “Bồ tát trú ở các phạn trú, lấy đó làm nhân nên có được đầy đủ 5 quả: 1. Thọ sanh làm chúng sanh trong cõi Dục, là quả báo quả; 2. Hai khối phước và trí viên mãn, là tăng thượng quả; 3. Thành thục chúng sanh, là trượng phu quả; 4. Tất cả chỗ sanh đều không rời phạm trú, là y quả; 5. Sanh ra nơi nào cũng lìa những chướng ngại cho các phạm trú, là tương ly quả.”
99. Chánh văn là tư (思): chỉ cho dục tâm sở trong 5 tâm sở biệt cảnh và tuệ tâm sở trong 4 hệ thống tâm vương tâm sở của 4 trí.
100. Tín hành địa còn gọi là Giải hành phát tâm, chỉ cho hàng Bồ tát ở giai đoạn Giải hành (bao gồm cả Tư lương vị và Gia hành vị). Giai đoạn Giải hành ở vô số kiếp thứ nhất, gồm 10 tín, 10 trú, 10 hành, 10 hướng và 4 gia hành. Danh hiệu địa vị này có 4: nguyện lạc, tín hành, thắng giải hành và ý lạc. Địa vị này khẳng định về chân như được dạy cho, chứ chưa chứng ngộ chân như ấy. Tín là tin hiểu sâu xa các địa. Hành là tu tập 10 pháp hạnh.
101. Còn gọi là Thanh tịnh ý lạc phát tâm, vì chứng đắc tâm mình người bình đẳng nên không còn tâm sai biệt giữa lợi mình và lợi người. Tịnh là do không còn hai chướng ngại dơ bẩn là năng thủ và sở thủ.
102. Còn gọi là Dị thục phát tâm, vì hiện hành vô tướng thuận với phần thanh tịnh (: chân tánh xuất triền) nên hoạch đắc trí vô phân biệt, có khả năng nhậm vận tu tập 10 độ.
103. Còn gọi là Viên mãn đại bi đoạn chướng phát tâm, vì đã diệt trừ vĩnh viễn phiền não chướng và sở tri chướng cùng cực vi tế, thể hiện chánh biến giác đối với cảnh giới sở tri.
104. Chỗ dựa, nghĩa là ý lạc.
105. Chủng trí, nghĩa là trí vô phân biệt.
106. Là tu tập thêm và hơn lên từ địa này qua địa khác để đạt đến viên mãn.
107. Bồ tát giới, nghĩa là tâm địa giới Bồ tát, bao gồm 30 tâm (10 trú, 10 hạnh, 10 hướng, không kể 10 tín là hạnh vị Bồ tát chuẩn bị), 10 địa và 58 giới của Bồ tát tu tập thọ trì, là căn bản từ đầu đến cuối của Bồ tát vị.
108. Thiện pháp ở đây là 10 ba-la-mật, trong đó, mỗi địa tu mỗi ba-la-mật (nói theo sự tăng thắng) và mỗi địa tu các ba-la-mật (nói theo sự chung thông).
109. Tự tánh phát bồ-đề tâm: chủng tử vô lậu (loại bản hữu) của tất cả tâm vương, tâm sở được phát khởi hiện hành vô lậu ở đời hiện tại.
110. Thiện căn phát bồ-đề tâm: là các thiện căn được thiện hữu giáo hóa và thánh giáo huân tập (ở đời quá khứ) mà phát sanh và phát triển. Các thiện căn ấy tác động và hỗ trợ cho thiện tuệ thành vô lậu tuệ, vô lậu tuệ thành Vô thượng bồ-đề.
111. Như khi xưa, đức Thế tôn khai thị pháp Đại thừa, chư thiên và nhân loại nghe pháp ấy xong thì phát khởi bồ-đề tâm.
112. Kinh Giải thâm mật: “Thiện nam tử, thành tựu lợi ích chân thật và vĩ đại, được tâm trí xuất thế mà trước đây chưa được, sanh hoan hỷ lớn lao, nên địa đầu tiên tên là Cực hỷ địa (Hoan hỷ địa).” (H.T Thích Trí Quang dịch)
113. Mười đại nguyện theo kinh Thập địa: 1. Nguyện cúng dường Phật: “Bằng tất cả mọi vật dụng cúng dường, cung kính cúng dường hết thảy chư Phật.”; 2.
Nguyện thọ trì chánh pháp: “Nguyện tiếp thọ Pháp luân của hết thảy chư Phật; nguyện nhiếp thọ bồ-đề của hết thảy chư Phật; nguyện thủ hộ giáo của hết thảy chư Phật; nguyện duy trì pháp của hết thảy chư Phật.”; 3. Nguyện nhiếp pháp thượng thủ: “Nguyện trong tất cả thế gian, nơi nào có Phật xuất hiện, từ Đâu suất thác sanh, nhập thai, trụ thai, sơ sanh, xuất gia, thành đạo, thuyết pháp, thị hiện niết bàn, tôi thảy đều đi đến nơi đó, thân cận cúng dường, làm bậc thượng thủ trong đại chúng, thọ hành Chánh pháp, vận chuyển khắp trong mọi thời, khắp trong mọi xứ.” ; 4.
Tăng trưởng chúng sanh tâm hành: “Nguyện rằng, tất cả Bồ tát hạnh, quảng đại, vô lượng, không hoại, không tạp, nhiếp các ba-la-mật, tịnh trị các địa, tổng tướng, biệt tướng, dị tướng, thành tướng, hoại tướng, tất cả Bồ tát hạnh ấy, tôi đều giảng thuyết như thật, giáo hóa tất cả khiến cho tiếp thọ và hành trì, tâm được tăng trưởng.”; 5. Giáo hóa chúng sanh: “Nguyện rằng, tất cả chúng sanh giới, sắc hay vô sắc, tưởng hay vô tưởng, phi hữu tưởng phi vô tưởng, loài sanh bằng trứng, bằng thai, bằng ẩm thấp, bằng biến hoá, hệ thuộc ba cõi, ở trong sáu thú, tất cả sanh xứ, được thâu nhiếp trong danh và sắc, các chủng loại như vậy, vân vân, tôi đều giáo hoá đưa vào Phật pháp, để vĩnh viễn đoạn trừ tất cả cõi thú của thế gian cho được an trụ trong Nhất thiết trí đạo.”; 6.
Nguyện biết rõ thế giới: “Nguyện rằng, hết thảy thế giới, quảng đại, vô lượng, thô hay tế, loạn trụ, hay đảo trụ, hay chánh trụ, hoặc đến, hoặc đi, sai biệt như màng lưới đế thanh minh châu, mười phương vô lượng, đủ loại bất đồng, tôi được thấy rõ bằng trí, hiện tiền thấy biết.”; 7. Nguyện tịnh Phật quốc độ: “Nguyện rằng, hết thảy quốc độ, nhập vào một quốc độ, một quốc độ nhập vào hết thảy quốc độ, vô lượng cõi Phật, tất cả tôi đều làm cho thanh tịnh, làm rực sáng bằng các vật dụng để trang nghiêm, xa lìa hết thảy ô nhiễm, thành tựu đạo thanh tịnh, vô lượng chúng sanh có trí tuệ sung mãn ở trong đó, tất cả đều vào cảnh giới bao la của chư Phật, tùy theo tâm chúng sanh mà thị hiện, khiến cho hết thảy đều hoan hỷ.”; 8.
Nguyện đồng tâm hành: “Nguyện rằng, cùng với tất cả Bồ tát đồng một chí hướng và hành động, không thù oán, không ganh tị, tích tụ các thiện căn, với tất cả Bồ tát, cùng một duyên bình đẳng, thường cùng hôi họp không rời bỏ nhau, tùy ý có thể hóa hiện đủ các Phật thân, tùy tâm có thể biết cảnh giới uy lực, trí của hết thảy Như lai, được bất thối như ý thần thông, du hành tất cả thế gian, hiện hình trong tất cả chúng hội, vào khắp tất cả chỗ thọ sanh, thành tựu bất tư nghị Đại thừa, tu Bồ tát hạnh.”; 9.
Nguyện ba nghiệp không cùng tận: “Nguyện nương theo bánh xe không thối lui, thực hành Bồ tát hạnh, các hành vi của thân, ngữ và ý đều không là những hành vi suông. Nếu chúng sanh nào chợt gặp tôi, mong cho quyết định Phật pháp, bất chợt nghe tiếng nói của tôi, liền được trí tuệ như thật, tịnh tín vừa sanh, tức thì vĩnh viễn đoạn trừ phiền não, được thân hình như gốc cây đại dược vương, được thân hình như như ý bảo, tu hành tất cả Bồ tát hạnh.”; 10.
Nguyện thành bồ-đề: “Nguyện, ở trong tất cả thế gian mà thành tựu giác ngộ tối thượng, không rời khỏi khoảng bằng đầu ngọn lông xíu mà thị hiện khắp tất cả mọi nơi, dù nhỏ bằng đầu lông xíu, sơ sanh, xuất gia, bước đến đạo tràng, thành chánh giác, chuyển Pháp luân, nhập Niết bàn, chứng đắc cảnh giới Phật, năng lực đại trí tuệ, ở trong mỗi một niệm, tùy tâm của tất cả chúng sanh mà thị hiện thành Phật, khiến cho được tịch diệt, bằng một niệm chánh giác mà biết tất cả pháp giới tức Niết bàn tướng; bằng một âm thanh mà thuyết pháp khiến hết thảy chúng sanh đều sanh tâm hoan hỷ, thị hiện nhập đại Niết bàn mà không đoạn tuyệt Bồ tát hạnh; chỉ bày mặt đất đại trí tuệ; đặt vững tất cả pháp;
bằng pháp trí thông, thần túc thông, huyễn thông, tự tại biến hóa sung mãn tất cả pháp giới.” (Thắng Man giảng luận - Tuệ Sỹ dịch)
114. Xem trong sách này, quyển 8, phẩm Độ nhiếp, phần 2, về 5 tinh tiến, đó là: tinh tiến hoằng thệ, tinh tiến hiện khởi, tinh tiến dũng mãnh, tinh tiến kiên cố và tinh tiến không bỏ Phật đạo.
115. Phân biệt tri là tác ý và phân biệt đối với mọi hiện tượng hiện tiền và hiện tượng xác lập. Hiện tượng hiện tiền là thế giới mình đang tiếp xúc. HIện tượng xác lập là ảnh tượng trong định. Pháp được kiến lập là hiện tượng hiện tiền và hiện tượng xác lập ấy. Đối với pháp được kiến lập mà không phân biệt thì được trí vô phân biệt. Bồ tát khi bước vào các địa là đã được kiến đạo vị. Bồ tát ở mỗi địa có pháp được kiến lập khác nhau, đó là giáo pháp 10 địa, được chia làm 5 giai đoạn là: giải hành, thanh tịnh ý lạc, hữu tướng hành, vô tướng hành và vô công dụng hành. Tùy theo sự phân biệt tri ở từng địa, chư vị Bồ tát có sự tu tập thích ứng khác nhau, nhưng đích đến vẫn là hiện hành cái vô tướng thuận với phần thanh tịnh, không còn sự phân biệt.
116. Sự phát tâm ban đầu (tối sơ phát tâm) là sự phát tâm cầu Vô thượng bồ-đề bằng dục tâm sở, và chính sự thôi thúc đó là chỗ y cứ cho tất cả thiện pháp.
117. Sự phát tâm ý lạc tương ưng (y tương ưng phát tâm) là ý lạc tương ưng bồ-đề, là tâm không biến đổi cho đến thành tựu bồ-đề.
118. Sự phát tâm tinh cần tương ưng (cần tương ưng phát tâm) là tăng thượng ý lạc tương ưng bồ-đề, là khả năng tăng trưởng 4 niệm trú v.v…, tất cả thiện pháp.
119. Sự phát tâm cực y tương ưng (cực y tương ưng phát tâm) là cùng tu 3 trí, tùy thuận gia hành tương ưng bồ-đề, có khả năng đốt cháy chướng ngại của 3 trí: bình đẳng tánh trí (thức thứ 7), diệu quán sát trí (thức thứ 6) và thành sở tác trí (5 thức trước).
120. Sự phát tâm bố thí ba-la-mật tương ưng (thí ba-la-mật tương ưng phát tâm) là bố thí tương ưng bồ-đề, là khả năng mãn túc tâm nguyện của chúng sanh.
121. Sự phát tâm trì giới ba-la-mật tương ưng (giới ba-la-mật tương ưng phát tâm) là trì giới tương ưng bồ-đề, là nguồn phát sanh tất cả công đức.
122. Sự phát tâm nhẫn nhục ba-la-mật tương ưng (nhẫn ba-la-mật tương ưng phát tâm) là an nhẫn tương ưng bồ-đề, là tuy gặp nghịch duyên nhưng tâm không bị rối loạn.
123. Sự phát tâm tinh tiến ba-la-mật tương ưng (tiến ba-la-mật tương ưng phát tâm) là tinh tiến tương ưng bồ-đề, là người khác không thể phá hoại.
124. Sự phát tâm thiền định ba-la-mật tương ưng (thiền ba-la-mật tương ưng phát tâm) là tĩnh lự tương ưng bồ-đề, là ở nơi ồn náo mà tâm vẫn không dao động.
125. Sự phát tâm trí tuệ ba-la-mật tương ưng (tuệ ba-la-mật tương ưng phát tâm) là Bát-nhã tương ưng bồ-đề, có khả năng diệt trừ bịnh nặng 2 chướng là phiền não chướng và sở tri chướng.
126. Sự phát tâm vô lượng tương ưng (vô lượng tương ưng phát tâm) là phương tiện tương ưng bồ-đề, là không xả bỏ việc lợi người.
127. Sự phát tâm thần thông tương ưng (thần thông tương ưng phát tâm) là đại nguyện tương ưng bồ-đề, là hoàn thành tâm nguyện.
128. Sự phát tâm bốn pháp nhiếp tương ưng (nhiếp tương ưng phát tâm) là lực tương ưng bồ-đề, là khả năng thành thục chúng sanh được hóa độ.
129. Sự phát tâm bốn vô ngại biện tương ưng (biện tương ưng phát tâm) là diệu trí tương ưng bồ-đề, là dùng ái ngữ mà điều phục giáo hóa.
130. Sự phát tâm tư lượng tương ưng (lượng tương ưng phát tâm) là thần thông tương ưng bồ-đề, là thế lực vô ngại, tức 6 thần thông. Tư lượng là biết rõ ngôn âm, tâm hành, quá khứ và vị lai (chưa kể phi hành và ra khỏi phiền não).
131. Sự phát tâm khối phước đức và trí tuệ tương ưng (tụ tương ưng phát tâm) là hai tư lương phước trí tương ưng bồ-đề, là cụ túc vô lượng tư lương phước đức và trí tuệ.
132. Sự phát tâm bảy giác phần tương ưng (giác phần tương ưng phát tâm) là 37 pháp bồ-đề phần tương ưng bồ-đề, là ba đời chư Phật đều đi trên con đường này.
133. Sự phát tâm chỉ quán tương ưng (chỉ quán tương ưng phát tâm) là tu từ bi và tu chỉ quán tương ưng bồ-đề, là không bỏ sanh tử, không trú niết bàn.
134. Sự phát tâm tổng trì tương ưng (tổng trì tương ưng phát tâm) là tổng trì biện tài tương ưng bồ-đề, là khả năng nắm giữ giáo pháp đã nghe và chưa được nghe.
135. Sự phát tâm bốn pháp ấn tương ưng (pháp ấn tương ưng phát tâm) là bốn pháp ôn đà nam tương ưng bồ-đề, là diệu âm khuyến phát, tán trợ chúng sanh tu giải thoát sanh tử. Pháp ôn đà nam, là lược tập của giáo pháp. Có bốn lược tập của pháp: các hành vô thường, hữu lậu đều khổ, các pháp vô ngã, niết bàn tịch tĩnh.
136. Sự phát tâm tự tánh tương ưng (tự tánh tương ưng phát tâm) là duy nhất cộng đạo tương ưng bồ-đề, là nhiêu ích chúng sanh v.v… không có khác biệt.
137. Sự phát tâm phương tiện tương ưng (phương tiện tương ưng phát tâm) là pháp thân tương ưng bồ-đề, là khả năng thị hiện Đâu suất đà thiên, thành đẳng giác, nhập niết bàn v.v…, chúng sanh ai chưa thành thục thì làm cho thành thục, ai thành thục rồi thì làm cho giải thoát.
138. Trong 22 thí dụ, phát tâm thứ 1 đến 3, nhiếp vào sự phát tâm của Bồ tát bậc thấp, bậc vừa và bậc cao ở Tư lương vị. Phát tâm thứ 4 nhiếp vào sự phát tâm của Bồ tát ở Gia hành vị. Mười phát tâm tiếp theo (từ 5 đến 14) nhiếp vào sự phát tâm của các Bồ tát từ địa thứ 1 đến địa thứ 7. Năm phát tâm kế tiếp (từ 15 đến 19) nhiếp vào 3 thanh tịnh địa, tức địa thứ 8, địa thứ 9 và địa thứ 10. Ba phát tâm sau cùng nhiếp vào Phật địa. Trong Hiện quán trang nghiêm luận (現觀莊嚴論), quyển 1, phẩm Nhất thiết tướng trí, thứ 2, có kệ tụng về 22 thí dụ phát bồ-đề tâm tương tự. Phần chú giải ở trên là dựa Hiện quán trang nghiêm luận lược thích (現觀莊嚴論略釋) của pháp sư Pháp tôn (法尊).
139. Thánh giả vô tận tuệ kinh (聖者無盡慧經, Akṣayamati-nirdeśa-sūtra): gọi tắt là Vô tận tuệ kinh, tức phẩm Vô tận ý Bồ tát, thứ 12, của Đại phương đẳng Đại tập kinh, quyển thứ 27~30 (ĐTK No.397). Kinh ấy nói đến 41 sắc thái phát bồ-đề tâm: “Vô Tận Ý Bồ tát nói: Thưa tôn giả (Xá lợi phất)!
Lúc sơ phát tâm Vô thượng bồ-đề đã chẳng thể tận được. Tại sao, (1) phát bồ-đề tâm vì chẳng lìa phiền não vậy, (2) phát tâm tương tục vì chẳng mong thừa khác vậy, (3) phát tâm kiên cố vì chẳng xen ngoại luận vậy, (4) phát tâm chẳng hư hoại vì ma chẳng trở ngại vậy, (5) phát tâm hằng thuận vì thiện căn tăng trưởng vậy, (6) phát tâm đến thường trú vì pháp hữu vi vô thường vậy, (7) phát tâm chẳng động chuyển vì chư Phật an ủi hộ trợ vậy, (8) phát tâm thắng diệu vì lìa suy tổn vậy, (9) phát tâm ở yên vì chẳng hí luận vậy, (10) phát tâm không ví dụ vì không có tương tự vậy, (11) phát tâm kim cương vì phá các pháp vậy, (12) phát tâm vô tận vì vô lượng công đức đều thành tựu vậy, (13) phát tâm bình đẳng vì lợi ích chúng sanh vậy, (14) phát tâm khắp che vì không có biệt dị vậy,
(15) phát tâm tươi sáng vì tánh thường thanh tịnh vậy, (16) phát tâm vô cấu vì trí huệ sáng tỏ vậy, (17) phát tâm thiện giải vì chẳng lìa cứu cánh vậy, (18) phát tâm rộng sướng vì từ tâm như hư không vậy, (19) phát tâm lớn trống vì dung thọ tất cả chúng sanh vậy, (20) phát tâm vô ngại vì trí huệ thông đạt vậy, (21) phát tâm đến khắp nơi vì đại bi chẳng dứt vậy, (22) phát tâm chẳng đoạn dứt vì khéo hiểu lập nguyện vậy, (23) phát tâm làm chỗ về vì được chư Phật khen vậy, (24) phát tâm thù thắng vì nhị thừa tôn ngưỡng vậy, (25) phát tâm thâm viễn vì tất cả chúng sanh chẳng biết được vậy, (26) phát tâm chẳng bại vì chẳng phá Phật pháp vậy, (27) phát tâm an ổn vì khéo cho chúng sanh những khoái lạc vậy, (28) phát tâm trang nghiêm vì tất cả công đức đều thành tựu vậy,
(29) phát tâm khéo quán sát vì trí huệ thành tựu vậy, (30) phát tâm tăng trưởng vì tuỳ ý ban cho vậy, (31) phát tâm như nguyện vì giới thanh tịnh vậy, (32) phát tâm bồ-đề đến khắp mọi loài vì với kẻ oán người thân có đủ nhẫn nhục vậy, (33) phát tâm khó hư hoại vì có đủ tinh tiến vậy, (34) phát tâm tịch diệt vì đủ thiền định vậy, (35) phát tâm không bị huỷ báng vì đủ trí huệ vậy, (36) phát tâm vô nguyện vì tăng trưởng đại từ vậy, (37) phát tâm bồ-đề an trụ thiện căn vững chắc vì tăng trưởng đại bi vậy, (38) phát tâm hoà duyệt vì tăng trưởng đại hỉ vậy, (39) phát tâm bất động vì tăng trưởng đại xả vậy, (40) phát tâm kham nhiệm gánh nặng vì được chư Phật dạy trao vậy, (41) phát tâm chẳng tuyệt vì Tam bảo chẳng dứt đoạn vậy.” (H.T Thích Trí Tịnh dịch, Kinh Đại bảo tích,
Pháp hội Vô tận ý Bồ tát, thứ 61)
140. Phương tiện khéo léo là phương tiện do đại bi làm động cơ và đại trí dẫn đạo.
141. Kinh Viên giác dạy: “Thiện nam tử, biết là huyễn ảo thì thoát bỏ huyễn ảo, không làm phương tiện gì khác; huyễn ảo thoát bỏ thì viên giác trong sáng, không có thứ tự nào cả. Các vị Bồ tát, và những người sau này, y theo sự chỉ dẫn trên đây mà tu hành mới vĩnh viễn thoát bỏ huyễn ảo.” (H.T Thích Trí Quang dịch). Phiền não như hoa đốm có trong không gian. Hoa đốm hủy diệt mà không gian không hủy diệt. Phiền não huyễn ảo hủy diệt mà viên giác bất động, không phải mất hết, nên không gì phải sợ hãi. Thành tựu cái biết huyễn ảo là thành tựu cái biết đốn ngộ, không phải sự suy biết bình thường.
142. Tác ý chỗ thọ sanh là tùy ý muốn mà thọ sanh. Hàng nhị thừa chỉ nhập niết bàn mà không có năng lực này.
143. Đây chính là đạo lý “đồng thể đại bi, vô duyên đại từ”.
144. Kinh Phật vì trưởng giả Thủ ca mà nói Nghiệp báo sai biệt (Phật vị Thủ ca trưởng giả thuyết nghiệp báo sai biệt kinh -佛為首迦長者說業報差別經, Đại Chánh tạng, quyển 1, kinh số 80 [0891b04]): “Có 10 nghiệp làm cho chúng sanh được quả báo đoan chánh: 1. Không sân; 2. Bố thí y phục; 3. Thương yêu cha mẹ; 4. Tôn trọng hiền thánh; 5. Sơn phết tháp Phật; 6. Quét dọn điện đường; 7. Rưới quét già lam; 8. Rưới quét tháp Phật; 9. Thấy người thô xấu không sanh tâm khinh khi, khởi tâm cung kính; 10. Thấy người đoan chánh biết rõ do nhân đời trước cảm nên.” Bồ tát là một chúng sanh đoan chánh bậc nhất, nghĩa là thương yêu chúng sanh như thương yêu cha mẹ, tôn trọng chúng sanh như tôn trọng hiền thánh.
145. Sự phát tâm duyên theo thế tục và sự phát tâm duyên theo đệ nhất nghĩa đã nói ở phẩm Phát tâm.
146. Chỉ cho Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát.
147. Tức là sự dạy bảo chỉ và quán. Sự dạy bảo nào không đưa tới tâm trú thì không dạy bảo.
148. Bồ tát tùy thuận các Bồ tát nhập sơ địa (sanh vào nhà), cho đến các Bồ tát ở các địa sau (thọ ký, thọ chức, được Như lai trí)
149. Bồ tát lấy không đảo để thành tựu khéo nói; lấy không cao để thành tựu khiến quy hướng; lấy không vướng mắc để thành tựu khiến đi vào; lấy thông đạt để thành tựu khiến điều phục; lấy năng nhẫn để thành tựu khiến thành thục; lấy điều thuận để thành tựu khiến tâm trú, khiến giác ngộ, khiến giải thoát và tập đức; lấy đi xa để thành tựu sanh vào nhà, thọ ký, thọ chức và được Như lai trí.
150. Hành khổ: khổ sở vì sự biến động của pháp hữu vi.
151. Chỉ cho hàng nhị thừa.
152. Đó là hạnh tu chế phục 6 căn. Như Phát bồ-đề tâm kinh luận (發菩提心經論 - Đại Chánh tạng, quyển 32, kinh số 1659), phẩm Phát tâm, thứ 2 [0510c12] có ghi: “Phật tử, người cầu bồ-đề thì không được phóng dật, vì (ba nghiệp) phóng dật sẽ làm hư hoại thiện căn. Nếu Bồ tát chế phục sáu căn không cho phóng dật thì người đó tu tập được sáu ba-la-mật.”
153. Uy nghi: là 4 uy nghi đi, đứng, ngồi, nằm; nói rộng là 3 ngàn uy nghi, 8 muôn tế hạnh.
154. Như 10 hạnh nghiệp của Bồ tát đồng chân trú (trong 10 trú): “Thân hạnh không lỗi, ngữ hạnh không lỗi, ý hạnh không lỗi, tùy ý thọ sanh, biết các thứ dục của chúng sanh, biết các thứ tri giải của chúng sanh, biết các thứ cảnh giới chúng sanh, biết các thứ nghiệp của chúng sanh, biết thế giới thành hoại, thần túc tự tại vô ngại.”
155. Hạnh thanh tịnh kinh (行淸淨經): Chỉ cho phẩm Tịnh hạnh, kinh Hoa nghiêm. Thí dụ như, sắp ngủ thì chấp tay, xoay mặt hướng tây, quán tưởng và niệm Phật hoặc 10 tiếng, hoặc trăm tiếng, hoặc ngàn tiếng, hoặc vạn tiếng, rồi tụng bài kệ: Dĩ thời tẩm tức, đương nguyện chúng sanh, thân đắc an ổn, tâm vô loạn động. (Ngủ nghỉ theo giờ, nên nguyện chúng sanh, thân được yên ổn, tâm không loạn động.) Đó là cách Bồ tát vận dụng tâm trí để thu hoạch tất cả công đức thắng diệu, vận dụng bằng cách tu 4 niệm xứ và phóng đại tâm nguyện.
156. Kinh Đại Bát-nhã, phần 2, phẩm Siêu xuất, thứ 20. Giải thích phẩm ấy là luận Đại trí độ, quyển 51, Giải thích phẩm Thắng xuất, thứ 22. Kinh ghi: “Tu bồ-đề! Nếu sắc sẽ thật có tướng không hư vọng, không lẽ khác, không điên đảo, có thường, không biến hoại, chẳng phải không có pháp, thời Đại thừa ấy không thể vượt trên hết thảy thế gian, trời, người, a tu la. Tu bồ-đề! Song vì sắc hư vọng, do ức tưởng phân biệt, hòa hợp mà có tên gọi, hết thảy đều tướng vô thường, phá hoại, không có pháp, vì vậy nên Đại thừa ấy vượt trên hết thảy thế gian, trời, người, a tu la; thọ, tưởng, hành, thức cũng như vậy.” (H.T Thích Thiện Siêu dịch)
157. Đệ nhất nghĩa, tức chân thật nghĩa: chỉ cho pháp tánh, tức Tâm hay chân như.
158. Vô nhị, hay bất nhị: Nghĩa đen là không hai. Hai là chỉ cho khái niệm đối hiện và đối lập lẫn nhau. Khái niệm như vậy là hiện thân của sự thác loạn. Vô nhị là tự siêu việt lấy nó, là pháp tánh phi hữu vi, phi vô vi.
159. Thành duy thức luận: Viên thành thật nơi đó (y tha), Thường xa lìa biến kế. Nên nó và y tha, Chẳng khác, chẳng không khác, Như tánh vô thường thảy (không khác, chẳng không khác với các pháp vô thường), Thấy đây, mới thấy kia [thấy tánh Viên thành này mới thấy tánh Duyên khởi kia (tánh y tha).]
160. Pháp giới là biệt danh của chân như. Pháp giới an trú: chân như là thật thể bất biến.
161. Kinh Giải thâm mật: “Thắng nghĩa vô tánh do pháp vô ngã hiển lộ thì, luôn luôn và vĩnh viễn, pháp tánh các pháp là an trú, vô vi, không thích ứng với tất cả tạp nhiễm: luôn luôn và vĩnh viễn, pháp tánh các pháp là an trú nên vô vi, là vô vi nên không sanh diệt, là không thích ứng với tất cả tạp nhiễm nên bản lai vắng bặt, tự tánh niết bàn.” (H.T Thích Trí Quang dịch)
162. Tạng dịch (tức bản Hán dịch từ bản Tây Tạng - không rõ người dịch: 我見自身無我相,非惡處異性相故,除二别無錯亂生,故解脱唯盡錯亂。Ngã kiến tự thân vô ngã tướng, phi ác (thủ: 取) xứ, dị tánh tướng cố, trừ nhị biệt vô thác loạn sanh, cố giải thoát duy tận thác loạn. [Tự thân ngã kiến không có ý tưởng về ngã, vì chẳng phải ác thủ xứ (tham dục tùy miên, sân hận tùy miên và vô minh ngu si tùy miên), dị tánh tướng (ngũ uẩn); trừ diệt hai phân biệt (hai chấp thủ: năng thủ và sở thủ, tức ngã kiến và năm uẩn) thì không có sanh khởi thác loạn, vì vậy giải thoát chỉ là hết thác loạn.]
163. Ngã kiến phi kiến ngã.
164. Không tưởng phi vô duyên.
165. Năm thọ ấm: sắc thọ ấm, thọ thọ ấm, tưởng thọ ấm, hành thọ ấm và thức thọ ấm. Năm thọ ấm là pháp sanh diệt, biến dịch, bất lạc, sanh khởi phân biệt và hữu lậu.
Tạp a hàm, kinh 55, Ấm: “Một thời, Phật ở trong vườn Lộc dã, Tiên nhân đọa xứ, nước Ba la nại. Bấy giờ, Thế tôn bảo các tỳ kheo: “Nay, Ta sẽ nói về ấm và thọ ấm. Thế nào là ấm?
Những gì là sắc, hoặc quá khứ, hoặc hiện tại, hoặc vị lai; hoặc trong, hoặc ngoài; hoặc thô, hoặc tế; hoặc tốt, hoặc xấu; hoặc xa, hoặc gần; tất cả chúng được gọi chung là sắc ấm. Tùy theo những gì là thọ, tưởng, hành, thức; tất cả được gọi chung là thọ, tưởng, hành, thức ấm. Đó gọi là ấm.
Thế nào là thọ ấm? Nếu sắc là hữu lậu, chấp thủ, thì sắc kia hoặc quá khứ, hoặc hiện tại, hoặc vị lai, phát sanh ra tham dục, sân nhuế, ngu si và các thứ tâm pháp tùy phiền não khác. Thọ, tưởng, hành, thức lại cũng như vậy.
Đó gọi là thọ ấm.” (Thích Đức Thắng dịch)
166. Chánh văn là hữu kiến, nghĩa là thấy có. Tăng nhất a hàm, mục Hai pháp, phẩm Hữu vô, kinh số 2, định nghĩa: “Thế nào là hữu kiến? Thấy dục có thật; thấy sắc có thật; thấy vô sắc có thật. Thế nào là thấy dục có thật? Đó là năm dục. Năm dục là những gì? Sắc được thấy bởi mắt, rất khả ái, rất khả niệm mà người đời tôn thờ chưa từng lìa bỏ. Thanh được nghe bởi tai, hương được ngữi bởi mũi, vị được nếm bởi lưỡi, mượt láng được xúc chạm bởi thân, pháp được nhận biết bởi ý. Đó là hữu kiến.” (Thích Đức Thắng dịch)
167. Tập đại tụ (dồn chứa khối lớn): còn gọi là Tư lương vị.
168. Tánh loại và nghĩa lý của các pháp: Kinh Giải thâm mật dạy sự tu tập chỉ quán dựa vào pháp, trong đó có pháp riêng biệt (tự tướng), pháp tổng quát (tổng tướng); trong pháp tổng quát còn có nhỏ, có lớn và có vô lượng. Ngoài ra, sự biết về nghĩa lý của các pháp được trình bày qua 10 sự, 5 sự, 4 sự, 3 sự. Mười sự là: biết tánh tận hữu, biết tánh như hữu, biết nghĩa năng thủ, biết nghĩa sở thủ, biết nghĩa dựng nên, biết nghĩa hưởng dụng, biết nghĩa đảo ngược, biết nghĩa không ngược, biết nghĩa tạp nhiễm và biết nghĩa thanh tịnh. Năm sự là: sự biến tri, nghĩa biến tri, nhân biến tri, quả biến tri và biết sự ấy. Bốn sự là: chấp thọ, lãnh nạp, liễu biệt và nhiễm tịnh. Ba sự là: văn, nghĩa và giới. Hiểu rộng thì xin xem kinh Giải thâm mật.
169. Tư duy ở đây được hiểu là tư duy tu, nghĩa là chuyên chú, chánh định.
170. Ý ngôn: Một tên khác của ý thức. Ý thức hay phân biệt danh ngôn nên gọi là ý ngôn. Bồ tát tu tập hiện quán có năng lực tác ý đúng lý nên thông suốt ấn tượng của tâm, tức ấn tượng tương tự về danh, nghĩa, tự tánh và sai biệt của các pháp, chỉ là ý thức, giả thiết và không thật, vì vậy tất cả pháp là chẳng phải pháp, chẳng phải nghĩa, chẳng phải năng thủ, chẳng phải sở thủ, hiện chứng tất cả pháp toàn là duy thức.
171. Xem trong sách này ở quyển 7, phẩm Giáo Thọ: “Ở đây, Bồ tát thấy các nghĩa đều là tâm quang, chẳng phải ngoài tâm quang có cái thấy khác, bấy giờ Bồ tát diệt được sự tán loạn của sở chấp. Đây là cái thấy của Bồ tát ở nhẫn vị.”
172. Hiện thấy pháp tánh (Hiện kiến pháp giới): Chỉ cho Bồ tát nhập vào cái định không cách hở (vô gián định) để phát sanh trí vô lậu, chuẩn bị nhập kiến đạo, và Bồ tát ấy được gọi là Bồ tát an trú thế gian đệ nhất pháp vị. Nhiếp luận: “Vị Bồ tát như vậy ngộ nhập cái ấn tượng tuồng như thật có của ý thức nên ngộ nhập biến kế, ngộ nhập duy thức nên ngộ nhập y tha, còn viên thành thì ngộ nhập thế nào?
Nếu đã loại bỏ cái ý tưởng duy thức vốn thuộc chủng loại đa văn huân tập của ý thức, thì bấy giờ Bồ tát đã loại bỏ ấn tượng thật có, mọi ấn tượng tuồng như thật có không thể phát sanh, nên cái ý tưởng duy thức cũng không sanh được. Vì lý do ấy mà đứng ở chỗ mọi nghĩa (của các pháp) đều không có danh riêng (= danh ngôn), sống thích ứng với sự hiện thấy pháp tánh. Bấy giờ là Bồ tát đã phát sanh cái trí bình đẳng, không phân biệt năng tri sở tri, do đó mà vị Bồ tát này được gọi là ngộ nhập viên thành.” (H.T Thích Trí Quang dịch)
173. Hai tướng (nhị tướng): Thông thường nhị tướng là có, không, sạch, dơ v.v… Chính xác, nhị tướng là khái niệm (tướng) mà thực chất là phân biệt đối chiếu (nhị). Thí dụ như đây là cái bàn, thì cùng lúc đã có nghĩa tất cả cái khác không là cái bàn, đó là nhị tướng. Như vậy, nhị tướng là khái niệm phân biệt đối chiếu.
174. Kiến đạo: Là Bồ tát chứng nhập địa đầu tiên, tức Cực hỷ địa hay Hoan hỷ địa.
175. Ngoài tâm không có vật sở thủ là nói “đương thể tức không”, cũng là ý “vô nhất vật” trong bài kệ ngộ giải của Lục tổ Huệ Năng.
176. Tự tánh của pháp giới: pháp tánh bất nhị.
177. Trí đệ nhất nghĩa: Là trí có được từ kim cương tâm hay kim cương dụ định, nghĩa là Bồ tát ở mười địa, bằng tâm kiên cố của kim cương định, đoạn trừ tất cả vô minh vi tế để thành chánh giác.
178. Chuyển y, tức là đại niết bàn.
179. A-già-đà (agada) là tên một thứ thuốc phòng ngừa và trị mọi thứ bịnh, mọi thứ độc, dịch là phổ khứ, vô giá, vô bịnh, bất tử dược. Kinh Niết Bàn có nói: “Bồ tát nguyện cho chúng sanh được món thuốc a-già-đà, nhờ sức thuốc ấy họ trừ được tất cả vô số thứ độc hại”.
180. Định thêm sáng: Tức Kim cương dụ định. Chánh văn là “thử minh nhập đệ nhất nghĩa trí cố”.
181. Phân biệt: hư vọng phân biệt, trong đó có 3 loại phân biệt: danh ngôn phân biệt, tự tánh phân biệt và sai biệt phân biệt.
182. Trí cảnh, nghĩa là trí và cảnh: Trí là tâm năng quán. Cảnh là pháp sở quán. Các pháp được phản chiếu bởi trí cho nên được gọi là trí cảnh.
183. Phương tiện là tác ý đúng lý, không phải sự tác ý của nhị thừa. Trí vô phân biệt làm trợ bạn khi tu quán, vì vậy không tác ý như trạng thái hôn mê, không tầm tư như nhị thiền sắp lên, không thọ tưởng như diệt tận định, không đối tượng hóa chân như mà kế đạt. Ở đệ tứ thiền, muốn đắc thiên nhãn, chuyên chú tác ý ánh sáng biến khắp 10 phương, trong suốt vô ngại, hiện thấy tất cả sắc pháp; muốc đắc thần túc, chuyên chú tác ý thân nhẹ nhàng vô ngại, tùy ý biến hiện; muốn đắc thiên nhĩ, chuyên chú tác ý các loại âm thanh sai biệt; muốn đắc tha tâm, chuyên chú tác ý các loại hành tướng của tâm chúng sanh; muốn đắc túc mạng, lậu tận trí thông đối với việc đời trước, việc đời sau, thì chuyên chú tác ý bốn đế, ba giải thoát v.v…
184. Thánh trú là trú xứ của bậc thánh, tức không trú, vô nguyện trú, vô tướng trú và diệt tận định trú. Phạn trú là an trú bốm tâm tam-muội vô lượng, chính yếu là đại bi vô lượng. Thiên trú là tứ thiền bát định của cõi sắc và cõi vô sắc, chính yếu là đệ tứ thiền.
185. Trú xứ của chúng sanh ở thế gian: Có 9 nơi chúng sanh ở là, 1. Nhân loại và chư thiên của dục giới; 2. Phạm chúng thiên; 3. Quang âm thiên; 4. Biến tịnh thiên; 5. Vô tưởng thiên; (thuộc sắc giới) 6. Không vô biên xứ; 7. Thức vô biên xứ; 8. Vô sở hữu xứ; 9. Phi tưởng phi phi tưởng xứ (thuộc vô sắc giới).
186. Là phụng sự và cúng dường chư Phật ở trong 10 phương thế giới.
187. Là nhận sự cúng dường của chúng sanh, đồng thời giáo hóa chúng sanh bằng giáo pháp và cả thần thông làm cho người cúng dường được thanh tịnh.
188. Mười thứ tự tại: 1. Mạng tự tại: Có thể kéo dài tuổi thọ tùy ý; 2.
Tâm tự tại: Không nhiễm sanh tử; 3. Tài tự tại: Tài của dư dật, muốn là liền được, điều này do tu hạnh bố thí mà được; 4. Nghiệp tự tại: Chỉ làm việc thiện và khuyến khích người khác cùng làm; 5.
Sanh tự tại: Tùy theo chỗ mong muốn mà thọ sanh, điều này do giữ giới mà được; 6. Giải thoát tự tại: Có thể tùy ý muốn mà biến hóa, do nhẫn mà được; 7. Nguyện tự tại: Muốn gì được nấy, do tinh tiến mà được; 8.
Thần lực tự tại: Thần thông tối thắng, do định mà được; 9. Trí tự tại: Biết tất cả các ngôn ngữ, lời nói; 10. Pháp tự tại: Luôn khế kinh, khế lý, khế cơ, do tuệ mà được.
Bồ tát ở địa thứ 7 được các trí tuệ sâu rộng, chứng đắc đạo quả và nhờ năng lực thiền định sâu xa kiên cố, trong từng ý niệm tinh tấn thực hành 10 độ, 4 nhiếp pháp, 37 bồ-đề phần pháp, 3 giải thoát môn, cho nên đắc được 10 thứ tự tại, vì vậy địa thứ 8 tự nhiên được thành tựu. Bồ tát an trụ trong địa thứ 8, có thể tuỳ tâm ứng hiện hoá thân cứu giúp hết thảy chúng sanh, đó là nhờ có được 10 thứ tự tại.
189. Chúng hội của Phật hay đại tập hội của chư Phật, là đại hội gồm toàn chư vị Bồ tát. Thân Bồ tát là tha thọ dụng thân, thân ấy thọ dụng pháp lạc Đại thừa.
190. Công xảo nghiệp xứ, tức là nhất thiết công xảo cứu cánh minh xứ: tất cả các môn khoa học về kỹ thuật, nghệ thuật và công nghiệp. Cũng chỉ cho nhất thiết minh xứ, tức hết thảy các bộ môn học thuật, khoa học. Có năm bộ môn chính (ngũ minh xứ): 1. Thanh minh: ngôn ngữ học; 2. Nhân minh: luận lý học; 3. Nội minh: triết học; 4. Y phương minh: y dược học; 5.Công xảo minh: nghệ thuật và công nghệ.
191. “Từ Đâu suất thiên cung thị hiện ẩn mất, thọ sanh, thọ dục, vượt thành xuất gia, đến chỗ ngoại đạo, tu các khổ hạnh, chứng đại bồ-đề, chuyển đại pháp luân, nhập đại niết bàn.” (Nhiếp luận) Thân Bồ tát ở đây là biến hóa thân.
192. Luận Đại trí độ, Giải thích phẩm Tất định, thứ 83: “Này Tu bồ-đề, Bồ tát nếu xa lìa thần thông thời không thể theo ý chúng sanh thuyết pháp lành cho họ. Vì thế, Bồ tát khi hành Bát-nhã ba-la-mật nên khởi lên thần thông. Thí như chim không có cánh thời không thể bay cao; Bồ tát không có thần thông thời không thể tùy ý giáo hóa chúng sanh. Do vậy, Bồ tát khi hành Bát-nhã ba-la-mật nên khởi lên các thần thông, khởi lên các thần thông rồi nếu muốn làm lợi ích chúng sanh thời tùy ý lợi ích được.” (H.T Thích Thiện Siêu dịch)
193. Như trong kinh thường có vị Bồ tát hướng về Phật thưa hỏi đúng lý, thì Phật đáp: “Thiện nam tử, tốt lắm, ông có thể hỏi Như lai cái thâm nghĩa như vậy.”
194. Sáu trí: 6 trí cảnh hay 6 thông: 1. Thiên nhãn thông; 2. Thiên nhĩ thông; 3. Tha tâm thông; 4. Thần túc thông; 5. Túc mạng thông; 6. Lậu tận thông.
195. Tam minh: 1. Túc mạng minh; 2. Thiên nhãn minh; 3. Lậu tận minh.
196. Tám giải thoát: 1. Tự mình có sắc, thấy các sắc; 2. Quán tưởng nội sắc là vô sắc, thấy các ngoại sắc; 3. Quán tưởng sắc là tịnh, chú tâm trên suy tưởng ấy; 4. Vượt khỏi hoàn toàn sắc tưởng, diệt trừ các tưởng hữu đối, không tác ý đến những tưởng khác biệt, với suy tư “hư không là vô biên”, chứng và trú Không vô biên xứ; 5. Vượt khỏi hoàn toàn Không vô biên xứ, với suy tư “thức là vô biên”, chứng và trú Thức vô biên xứ; 6. Vượt khỏi hoàn toàn Thức vô biên xứ, với suy tư “không có vật gì”, chứng và trú Vô sở hữu xứ; 7. Vượt khỏi hoàn toàn Vô sở hữu xứ, chứng và trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ; 8. Vượt khỏi hoàn toàn Phi tưởng phi phi tưởng xứ, chứng và trú Diệt thọ tưởng; đó là sự giải thoát thứ tám.
197. Tám thắng xứ: 1. Bên trong có sắc tưởng, bên ngoài quán sắc lượng nhỏ; 2. Bên trong có sắc tưởng, bên ngoài quán sắc vô lượng; 3. Bên trong không sắc tưởng, bên ngoài quán sắc lượng nhỏ; 4. Bên trong không sắc tưởng, bên ngoài quán sắc vô lượng; 5. Bên trong không sắc tưởng, bên ngoài quán sắc xanh; 6. Bên trong không sắc tưởng, bên ngoài quán sắc vàng; 7. Bên trong không sắc tưởng, bên ngoài quán sắc đỏ; 8. Bên trong tướng sắc tưởng, bên ngoài quán sắc trắng.
198. Mười biến nhập, cũng gọi là 10 biến xứ: 1. Biến xứ đất; 2. Biến xứ nước; Biến xứ lửa; 4. Biến xứ gió; 5. Biến xứ xanh; 6. Biến xứ vàng; 7. Biến xứ đỏ; 8. Biến xứ trắng; 9. Biến xứ ánh sáng; 10. Biến xứ hư không.
199. Các tam-muội như Đại thừa trang nghiêm tam-muội, Tập phước định vương tam-muội, Hiền thủ tam-muội, Kiện hành tam-muội v.v…, chủng loại vô lượng.
200. Cũng được hiểu là vạn hạnh khó tu, như Bồ tát nghe nói vạn hạnh như bố thí rất là khó tu. Nhẫn thành thục thì không thoái lui và khuất phục trước các vạn hạnh khó tu ấy.
201. Bất tư nghị xứ: Du già sư địa luận, quyển 11: “Bất khả tư nghị xứ là tư duy của mình, tư duy của hữu tình, tư duy của thế gian.” Cũng luận ấy, quyển 25: “Thế nào là tư duy chánh pháp? Như có độc xứ không nhàn có thể quán sát tư duy chánh pháp được nghe và tin nhận, thì cần phải rời xa 6 xứ không nên tư duy, đó là là tư nghị về mình, tư nghị về hữu tình, tư nghị về thế gian, tư nghị về nghiệp quả dị thục của hữu tình, tư nghị về bậc tĩnh lự và cảnh giới tĩnh lự, tư nghị về chư Phật và cảnh giới chư Phật.”
202. Tai hoạnh: Du già sư địa luận, quyển 5: “Có tai hoạnh, nghĩa là chỗ sở y của già, bịnh, chết.”
203. Bà-già-bà (Bhagavat), cũng dịch âm khác là Bạc-già-phạm, dịch nghĩa là Thế Tôn, tức là đấng có 10 danh hiệu, có đầy đủ các đức, được người đời tôn kính.
204. Kinh Tạp a hàm, Tứ bất hoại tịnh, kinh số 804: “Những gì là bốn? Bất hoại tịnh đối với Phật; bất hoại tịnh đối với Pháp; bất hoại tịnh đối với Tăng; thành tựu Thánh giới. Vì sao? Nếu bốn đại, đất, nước, lửa, gió có sự thay đổi, tăng giảm, nhưng bốn bất hoại tịnh này chưa từng có sự tăng giảm biến đổi khác. Chúng không tăng giảm biến khác chỉ vì đa văn Thánh đệ tử đã thành tựu được đối với Phật, nên nếu bị đọa vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, điều này không thể có được. Cho nên, các tỳ kheo nên học như vầy: Ta sẽ thành tựu bất hoại tịnh đối với Phật; thành tựu bất hoại tịnh với Pháp, Tăng, thành tựu Thánh giới, và sẽ thiết lập cho người khác cũng được thành tựu.“ (Thích Đức Thắng dịch)
205. Chánh văn là định trí quả. Định tăng thượng là thần thông và các tam-muội. Tuệ tăng thượng là trí vô phân biệt.
206. Tăng chi bộ kinh, Ba pháp, Tăng thượng: “Vị ấy quan sát như sau: “Thắng tấn là tinh tấn của ta, không có thụ động; an trú là niệm của ta, không có thất niệm; khinh an là thân của ta, không có dao động; định tĩnh là tâm của ta, được nhứt tâm”. Vị ấy làm cho tăng thượng tự ngã (tăng thượng thế giới, tăng thượng pháp), từ bỏ bất thiện, tu tập thiện, từ bỏ có tội, tu tập không tội, gìn giữ cho tự ngã được thanh tịnh. Này các Tỷ kheo, đây gọi là tự ngã tăng thượng (tăng thượng thế giới, tăng thượng pháp). (H.T Thích Minh Châu dịch)
207. Bất thiện giác, tức bất thiện tầm: Tầm là đánh mạnh vào, có đặc tính là hướng tâm, để tâm trên đối tượng. Bất thiện tầm là hướng tâm về pháp bất thiện. Theo kinh Song tầm, kinh số 19, Trung bộ, thì bất thiện tầm là dục tầm, sân tầm và hại tầm.
208. Vô gián đạo: Là một trong bốn quá trình đoạn trừ phiền não, chứng đắc chân lý. Tứ đạo là gia hạnh đạo, vô gián đạo, giải thoát đạo và thắng tiến đạo. Đàn áp, phá nát sở duyên là gia hành đạo; xả các phiền não là vô gián đạo; nhậm trì đoạn diệt là giải thoát đạo; làm cho các phiền não viễn ly tương tục là thắng tiến đạo. Theo luận Câu xá thì tất cả phiền não đều được đoạn trừ ở vô gián đạo.
209. Nhẫn nại (nhẫn chịu) có hai: nhẫn chịu oán hại (nại oán hại nhẫn) và nhẫn chịu cực khổ (an thọ pháp nhẫn). Nhẫn nại như vậy là pháp môn tu tập của tất cả hiền thánh.
210. Thắng sanh xứ (cõi thọ sanh thù thắng): tịnh độ của Phật, nơi có Phật xuất thế, được nghe chánh pháp và có năng lực thần thông làm nhiều lợi ích cho chúng sanh. Luận Đại thừa trang nghiêm kinh, phẩm Phạn trú, thứ 20: “Nếu không có tâm đại bi thì không thể khởi nhẫn nhục khó làm trước cái khổ lớn (sanh tử).
Nếu không có sự nhẫn nhục khó làm trước cái khổ lớn (sanh tử) thì không thể khởi tư duy về lợi ích cho chúng sanh. Nếu không có sự tư duy về lợi ích cho chúng sanh thì không thể khởi nguyện sanh về cõi thù thắng. Nếu không có sự nguyện sanh về cõi thù thắng thì không thể thọ sanh cõi thù thắng.
Nếu không có sự thọ sanh cõi thù thắng thì không thể thành thục chúng sanh.” Nhiếp luận: “Năng lực của định tăng thượng là sống trong cái vui của thiền định thì tùy ý muốn mà thọ sanh (thắng xứ).”
211. Chánh văn là đắc thanh tịnh khí. Phẩm Giáo thọ, thứ 15: “Khí thể thành thanh tịnh, Kham tiến thừa vô thượng: Các Bồ tát được chư Như lai khen ngợi rồi liền thành tựu khí thể thanh tịnh, có thể gánh vác, đi vào thừa tối thượng.”
212. Nhiếp niệm (chánh niệm) do giữ giới thanh tịnh mà có, gọi là giới niệm. Giới niệm như vậy là phương tiện của tam-muội đối trị sự phóng túng do tác ý (động niệm). Trường A hàm, kinh Du hành: “Này Tu bạt đà la, nếu các vị tỳ kheo ai tự thu nhiếp được thì thế gian này không phải trống không, không có La hán.”
213. Chánh niệm là tư duy và ghi nhớ chánh pháp mà mình văn, tư, tu. Không có chánh niệm thì sự văn, tư, tu chánh pháp, dù cầu được người giúp cho, cũng vẫn khó có, mà có rồi cũng không giữ và thành được. Đây là quán trí của tam-muội đối trị giặc phiền não xâm nhập tâm trí làm hại 3 thiện căn là sự cầu văn, tư và tu.
214. Trí tuệ xuất thế (xuất thế Bát-nhã): trí tuệ chứng chân thật nghĩa (đệ nhất nghĩa), tức như sở hữu tánh (cái tánh đúng như cái thực của sự hiện hữu); tánh ấy là chân như nơi các pháp nhiễm tịnh.
215. Chánh văn là nhị tụ giới (二聚界): Nhị tụ là 2 khối phước trí. Giới là tên gọi khác của chủng tử, như kinh Đại tập, phẩm 12, Vô Tận Ý Bồ tát, có ghi: “Hết thảy hữu tình, từ vô thỉ đến nay, có đa dạng giới, như đống ác xoa, tồn tại một cách tự nhiên như vậy.”
216. Y chỉ tối thượng là y chỉ phước trí. Khi chủng tử phước trí thêm lớn nơi a-lại-da, thì đó là chỗ dựa trực tiếp sanh khởi quả Đại thừa thánh đạo, nói cách khác, đó là khéo cụ bị 2 thứ tư lương phước trí một cách vô giới hạn, làm năng lực chứng đắc thánh đạo.
217. Lấy tư lương phước đức để hoạch đắc thân tướng và thọ dụng thù thắng. Lấy tư lương trí tuệ để hoạch đắc trí tuệ thù thắng. Bồ tát thành tựu phước trí như vậy là bậc tối thắng trong tất cả chúng sanh.
218. Diệu pháp, là lấy giáo pháp Đại thừa làm đối tượng tác quán. Đạo lý, là trú ở nơi đạo lý duy tâm thì sống thích ứng với sự hiện thấy pháp tánh.
219. Chánh văn là tha bộ (他部), chỉ cho các bộ phái tiểu thừa: 1. Thuyết hữu bộ; 2. Tuyết sơn bộ; 3. Độc tử bộ; 4. Pháp thượng bộ; 5. Hiền trụ bộ; 6.Chánh lượng bộ; 7. Mật lâm sơn bộ; 8. Hóa địa bộ; 9. Pháp tạng bộ; 10. Ẩm quang bộ; 11. Kinh lượng bộ. Ở đây ẩn lược tự bộ (自部) là Đại thừa hay bộ phái Đại thừa (Đại chúng bộ, Nhất thuyết bộ, Thuyết xuất thế bộ, Kê dận bộ).
220. Bồ tát nỗ lực tu tập chỉ quán để thành tựu định tăng thượng, từ đó thấu suốt cảnh và tâm đều không nên trú nơi pháp tánh bất nhị. Nhiếp luận nói đến sức mạnh của thiện căn nhậm trì bằng 3 sự luyện mài (tam luyện ma tâm, 三練磨心) và 4 sự phải dứt bỏ (đoạn tứ xứ, 斷四處).
Ba sự luyện mài: “Vô số người trong vô lượng thế giới, mỗi sát-na đều có người chứng được vô thượng bồ-đề, (thì ta đây cũng sẽ chứng được), đó là sự luyện mài tâm chí thứ nhất. Do ý lạc này mà tu được lục độ; ta đã có ý lạc này thì nhờ đó ta dụng công thêm chút nữa sẽ tu được viên mãn về lục độ, đó là sự luyện mài tâm chí thứ hai. Những người có điều thiện còn chướng ngại, vậy mà chết rồi vẫn được sanh ra với cái tự thể khả ái, huống chi ta có điều thiện vi diệu, không còn chướng ngại, thì tại sao lại không được kết quả viên mãn, đó là sự luyện mài tâm chí thứ ba.” Bốn sự phải dứt bỏ: 1.
Dứt bỏ tác ý, là tách rời cái tác ý của thanh văn duyên giác; 2. Vĩnh viễn dứt bỏ sự hoài nghi của cái trí tuệ khác, là tách rời mọi sự hoài nghi đối với Đại thừa; 3. Dứt bỏ pháp chấp, là tách rời ngã và ngã sở trong giáo pháp được nghe và được nghĩ; 4.
Dứt bỏ phân biệt, là tách rời tác ý và phân biệt đối với mọi hiện tượng hiện tiền và xác lập.” (H.T Thích Trí Quang dịch)
221. Chi (支): ở luận này, chi được hiểu là thiện phần, thiện căn tụ (善根聚).
222. Thắng thiện: là điều thiện thù thắng, vì chướng ngại được vĩnh viễn đoạn trừ.
223. Đó là hai chướng, phiền não chướng và sở tri chướng, cần phải xả bỏ.
224. Cái đối trị hai chướng ấy là hai trí, tức trí căn bản ở kiến đạo vị và trí hậu đắc ở tu đạo vị.
225. Cung kính bậc thiện tri thức và cung kính đối với chánh pháp được tiếp nhận.
226. Thấy biết điên đảo là đối với 5 uẩn vô thường tưởng là thường, khổ tưởng là lạc, vô ngã tưởng là ngã, bất tịnh tưởng là tịnh.
227. Là không thoái chuyển đối với tuệ giác vô thượng, bao gồm sự không còn đọa lạc ác đạo, sự được vô sanh pháp nhẫn và sự quyết định sẽ thành Phật.
228. Là tuần tự tu tập văn tư tu, đắc pháp và đắc tuệ.Luận Đại thừa trang nghiêm kinh, quyển 1, phẩm Thành tông: “Nếu người tu hành ban đầu dựa vào vị thiện tri thức thì có khả năng sanh khởi sự nghe chánh pháp, tiếp theo là từ (hiểu biết) văn nghĩa chánh pháp mà có khả năng sanh khởi sự nghĩ nhớ chánh pháp, sau đó cái trí về chánh pháp được phát sanh từ cảnh giới chân thật. Từ chánh pháp trí mà chứng đắc pháp quả, và cũng từ chánh trí về sau sanh khởi giải thoát trí.”
229. Không có tâm cao thấp là không thấy mình ban ơn, không thấy kẻ thọ ơn, tức là bố thí bằng lòng chân thành, khiêm tốn. Ngoài ra, bố thí bình đẳng là không có cái tâm phân biệt, phán xét, kỳ thị, như kinh Bát đại nhân giác nói bố thí bình đẳng thì “không nhớ lỗi cũ, không ghét người ác”.
230. An lập thiện căn: chánh tín Phật pháp, thọ trì tịnh giới, nhiếp thọ đa văn, tăng trưởng huệ xả, điều nhu chư kiến. (Du già sư địa luận)
231. Thập thiện nghiệp đạo ở đây là mười ba-la-mật: thí độ, giới độ, nhẫn độ, tiến độ, định độ, tuệ độ, phương tiện độ, nguyện độ, lực độ và trí độ.
232. Phật thuyết thập địa kinh - 佛說十地經, Đại Chánh tạng, quyển 10, kinh số 287: “Khi Bồ tát an trú Ly cấu địa này thì tự tánh thành tựu mười đường thiện nghiệp.” Kinh Giải thâm mật -解深密經, Đại Chánh tạng, quyển 16, kinh số 676: “Rời xa hết thảy mọi sự phạm giới rất nhỏ, nên địa thứ hai tên là Ly cấu địa.” (H.T Thích Trí Quang dịch)
233. Bồ tát ở địa đầu tiên, Hoan hỷ địa, do hiện thấy pháp tánh mà tự nhiên thủ đắc giới pháp, “thành tựu lợi ích chân thật và vĩ đại, được tâm trí xuất thế mà trước đây chưa được, sanh hoan hỷ lớn lao.” Đó là giới pháp vô tận của Bồ tát, “là kho tàng tâm, kho tàng địa, kho tàng giới, kho tàng vô lượng hạnh nguyện và kho tàng nhân quả Phật tánh thường trú.” (Bồ tát giới Phạm võng)
234. Giới phẩm: tỳ-kheo, tỳ-kheo ni, thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di, thập thiện và Bồ tát tâm địa.
235. Chánh văn là y báo nhị quả, tức sở y quả (nghĩa là tập khí quả, đẳng lưu quả) và báo quả (dị thục quả). Đẳng lưu quả là cái kết quả do đồng loại nhân, hoặc biến hành nhân mà có. Đó là chỉ cái kết quả về hiện tượng nào cùng đồng đẳng, đồng lưu, đồng loại với nguyên nhân của hiện tượng ở trước nó. Dị thục quả là do dị thục nhân mà có, bởi cái nghiệp lực quá khứ hoặc thiện hoặc ác làm ra, mà ta không nhận thấy được quả thể, tức là dị thục quả. Ở đây, chúng sanh an trú tịnh giới thì được quả báo dị thục vừa ý, tức tái sanh làm người, trời v.v…, và đẳng lưu quả của sự trì giới ấy là ở trong đời vi lai cũng tiếp tục trì giới, không có gián đoạn.
236. Thiện căn: là 3 thiện căn không tham, không sân và không si; là 5 thiện căn tín, tiến, niệm, định và tuệ; là 3 tuệ văn, tư và tu; là 6 ba-la-mật thí, giới, nhẫn, tiến, định và tuệ; là vô lượng thiện pháp.
237. Diệu pháp tột bậc (đệ nhất diệu pháp): chỉ cho các tam-muội mà Bồ tát sở chứng.
238. Làm cho chúng sanh tuy chưa hiểu Đại thừa mà vẫn tin giáo pháp rộng lớn sâu xa.
239. Bốn vị: 1. Giải hành vị, gọi đủ là thắng giải hành vị, gồm cả tư lương vị và gia hành vị của Duy thức luận; giải hành vị có 10 tín, 10 hành, 10 hướng và 4 gia hành. 2. Kiến đạo vị, Duy thức luận gọi là thông đạt vị, chỉ cho nhập tâm của Sơ địa. 3. Tu đạo vị, Duy thức luận gọi là tu tập vị, gồm có trú tâm của sơ địa cho đến xuất tâm của thập địa. 4. Cứu cánh vị, Duy thức luận cũng gọi là cứu cánh vị, và chỉ cho Phật địa.
240. Mười thiện đạo, là không sát sanh, không trộm cắp, không dâm dục, không nói dối, không nói hai lưỡi, không nói ác khẩu, không nói thêu dệt, không tham lam, không sân hận, không ngu si tà kiến. Cho đến ba thừa, là giáo nghĩa ba thừa như 4 thiền, 4 định vô sắc, định diệt thọ tưởng, 37 bồ-đề phần, 3 môn giải thoát, 4 đế, 4 tâm vô lượng, 6 thần thông, 8 giải thoát, 10 lực, 4 vô úy, 4 trí vô ngại, 18 pháp không chung, 500 môn đà-la-ni v.v…
241. Tự tánh thiện căn là không tham, không sân, không si, là tự tánh thiện đối lập với cái oán nặng từ vô thỉ là 3 bất thiện căn tham, sân, si. Qua đó, vô tham là giới tăng thượng, vô sân là định tăng thượng và vô si là tuệ tăng thượng. Tu tập 6 ba-la-mật thì thống nhiếp hết thảy thiện pháp, “bởi vì hết thảy thiện pháp là sắc thái của 6 ba-la-mật, là tùy thuận của 6 ba-la-mật, là đẳng lưu của 6 ba-la-mật.” (Nhiếp luận), và vì “6 ba-la-mật không phải chỗ dựa của mọi thứ tạp nhiễm” (kinh Giải thâm mật)
242. Ba a-tăng-kỳ đại kiếp, tức ba vô số kiếp: Vô số kiếp thứ nhất là giai đoạn giải hành (gồm 10 trú, 10 hạnh, 10 hướng, 4 da hành). Vô số kiếp thứ hai có 2 giai đoạn: giai đoạn hữu tướng hành (địa thứ 1 đến địa thứ 6) và giai đoạn vô tướng hành (địa thứ 7). Vô số kiếp thứ ba là giai đoạn vô công dụng hành (địa thứ 8 đến địa thứ 10).
243. Bằng trí căn bản vô phân biệt và trí hậu đắc vô phân biệt vin theo ấn tượng tổng quát của pháp Đại thừa, Bồ tát đoạn trừ chướng ngại khó phá ở trong các địa bằng 5 sự tu tập: 1. Tổng tập; 2. Vô tướng; 3. Không dụng công; 4. Xí thạnh; 5. Không mừng đủ. (Nhiếp luận)
244. Chí đắc, tức chí đắc vị, chứng đắc vị: Theo Trung biên phân biệt luận, có 18 phần vị tu trú: 1. Nhân vị (trú chủng tánh bổ đặc già la); 2.
Nhập vị (đã phát tâm); 3. Gia hành vị (phát tâm rồi nhưng chưa chứng quả); 4. Quả vị (kiến đạo); 5.
Hữu sở tác vị (hữu học); 6. Vô sở tác vị (vô học); 7. Thù thắng vị (các thần thông v.v…); 8.
Hữu thượng vị (siêu việt thanh văn); 9. Vô thượng vị (đã thành Phật); [9 phần vị này ít được nói đến] 10. Thắng giải hành vị (gia hành); 11.
Chứng nhập vị (sơ địa); 12. Xuất ly vị (địa thứ 2 đến địa thứ 7); 13. Thọ ký vị (địa thứ 8); 14.
Biện thuyết vị (địa thứ 9); 15. Quán đảnh vị (địa thứ 10); 16. Chứng đắc vị (pháp thân của Phật); 17.
Thắng lợi vị (thọ dụng thân của Phật); 18. Thành sở tác vị (biến hóa thân của Phật) [9 phần vị này là Bồ tát hành vị). Trong đây, từ 1 đến 15 là nói về nhân, từ 16 đến 18 là nói về quả.
Trung biên phân biệt luận sớ, quyển 3, mục 12: “16. Chí đắc vị (chứng đắc vị) là quả địa pháp thân, tức từ xưa đến nay, cho đến chí đắc (vị); 17. Công đức vị (thắng lợi vị) là thọ dụng thân, tức dựa vào cái công vạn hạnh để thọ dụng vạn đức; 18.
Tác sự vị (Thành sở tác vị) là biến hóa thân, tức biến 10 phương thế giới, hóa (hiện) 8 sắc thái (thành đạo).”
245. Xem trong sách này, quyển 1, phẩm Duyên khởi: “Thí dụ mở cái tráp báu là sự chứng đắc bồ-đề phần bảo chân thật, tức là sự tự giác chứng.”
246. Không thể nghĩ bàn: Theo Nhiếp luận, bất khả tư nghị là 1 trong 5 sắc thái của pháp thân chư Phật (chuyển y, bạch pháp thành tựu, vô nhị, thường trú và bất khả tư nghị): “Thứ năm là sắc thái bất khả tư nghị, vì chân như thanh tịnh chỉ chứng đắc từ bên trong, vì không có sự ví dụ nào của thế gian có thể ví dụ được, vì không phải là chỗ mà mọi tầm tư có thể thấu đến.” (H.T Thích Trí Quang dịch)
247. Nhiếp luận: “Sắc thái bạch pháp thành tựu (của pháp thân chư Phật) là do 6 ba-la-mật viên mãn mà được 10 tự tại. Tựu trung, sống lâu tự tại, tâm thức tự tại và đồ dùng tự tại, là do viên mãn thí ba-la-mật; nghiệp tự tại và sanh tự tại là do viên mãn giới ba-la-mật; thắng giải tự tại là do viên mãn nhẫn ba-la-mật; nguyện tự tại là do viên mãn tiến ba-la-mật; thần lực tự tại, thống nhiếp tất cả ngũ thông, là do viên mãn định ba-la-mật; trí tự tại và pháp tự tại là do viên mãn tuệ ba-la-mật.” (H.T Thích Trí Quang dịch)
248. Chân như thì phổ biến toàn thể và đồng nhất tánh vị.
249. Tự tánh, tức tự tánh thân: Nhiếp luận định nghĩa: “Tự tánh thân là pháp thân của chư vị Như lai, do các pháp tự tại chuyển chỗ y cứ.” (H.T Thích Trí Quang dịch) Chuyển chỗ y cứ là chuyển A-lại-da thành Như lai tạng. Phật địa luận ghi: “Tự tánh là tự tánh thân ban đầu, thể thường bất biến, nên gọi là tự tánh thân.” Thành duy thức luận chép: “Tự tánh là thật tánh bình đẳng của tất cả pháp.”
250. Những khi thuyết pháp, Phật chấn động thế giới, phóng ánh sáng rực rỡ, làm cho mọi thế giới trở nên thấy được v.v…
251. Chúng sanh do ba bất thiện căn là tham, sân, si mà gây ra các ác hành về thân, ác hành về lời nói và ác hành về tâm ý.
252. Nhiếp luận: “Nên biết pháp giới chư Phật, trong mọi thời gian, làm được 5 việc. Một là cứu vớt tai nạn cho tất cả chúng sanh, vì chúng sanh gặp Phật thì thoát được mọi tai nạn đui, điếc, điên, cuồng, v.v... Hai là cứu vớt đường dữ, vì cứu vớt chúng sanh ra khỏi chỗ dữ mà đặt vào chỗ lành. Ba là cứu vớt sự phi phương tiện, vì làm cho ngoại đạo bỏ những phi phương tiện cầu được giải thoát, mà đem họ để vào giáo pháp của đức Như lai. Bốn là cứu vớt thân kiến, vì trao cho họ con đường siêu thoát 3 cõi. Năm là cứu vớt cỗ xe được đi, vì cứu vớt các vị Bồ tát muốn đi theo các cỗ xe khác, các vị thanh văn thuộc loại không cố định, đem họ đặt cả vào trong Đại thừa, cho họ tu theo cỗ xe vĩ đại. Cũng nên biết nghiệp dụng của chư Phật trong 5 việc này là rất bình đẳng.” (H.T Thích Trí Quang dịch)
253. Chủng tánh bất định: là không nhất định sẽ chứng thừa nào, mà tùy theo điều kiện ban đầu, gặp nhân duyên với thừa nào thì phát tâm và thành tựu cứu cánh trong thừa đó.
254. Chỉ cho những phẩm chất và thành quả của pháp thân Phật.
255. Nhiếp luận: “Pháp thân thích ứng với mấy đức? Thích ứng với 20 công đức tối thanh tịnh: 4 tâm vô lượng, giải thoát, thắng xứ, biến xứ, vô tránh, nguyện trí, 4 trí vô ngại, 6 thần thông, 30 tướng đại trượng phu, 80 tùy hình hảo, 4 tất cả tướng thanh tịnh, 10 lực, 4 vô úy, 3 bất hộ, 3 niệm trú, bạt nhổ tập khí, sự không quên mất, đại bi, 18 pháp bất cọng, nhất thế tướng diệu trí.” (H.T Thích Trí Quang dịch)
256. Chuyển y là (1) chuyển diệt y tha thuộc phần tạp nhiễm chướng ngại, tức vĩnh viễn đoạn trừ chủng tử của hai chướng phiền não và sở tri, và (2) chuyển đắc y tha thuộc phần thanh tịnh, giải thoát chướng ngại, tự tại với pháp, tức thành tựu bạch pháp cực kỳ thanh tịnh.
257. Bạch pháp viên mãn là do viên mãn 6 ba-la-mật mà thành tựu 10 tự tại.
258. Hai trí đạo: Cực thanh tịnh xuất thế trí đạo là chuyển phiền não đắc niết-bàn vô trú, và Vô biên sở thức cảnh giới trí đạo là chuyển sở tri chướng chứng đại bồ-đề.
259. Nhiếp luận: “Đoạn đức là niết-bàn vô trú của Bồ tát. Thể tướng của niết-bàn ấy là xả bỏ tạp nhiễm mà không xả bỏ sanh tử, chuyển y chỗ dựa của 2 phần (sanh tử và niết-bàn). Ở đây, sanh tử là phần tạp nhiễm nơi y tha, niết-bàn là phần thanh tịnh nơi y tha, chỗ dựa của 2 phần là y tha thông cả 2 phần. Chuyển y là chính y tha khi nổi lên sự đối trị thì chuyển bỏ phần tạp nhiễm mà chuyển được phần thanh tịnh.” (H.T Thích Trí Quang dịch) Các nhân của phần tạp nhiễm là biến kế sở chấp, phiền não và ác hạnh. Phần thanh tịnh là tự tánh viên thành, tức bản thể vốn thanh tịnh. Chỗ dựa của phần thanh tịnh là y tha nơi viên thành. Phần thanh tịnh hiển lộ gọi là thanh tịnh viên thành.
260. Tất cả pháp tạp nhiễm: là căn bản phiền não và tùy phiền não. Căn bản phiền não có 6: tham, sân, vô minh, mạn, kiến và nghi. Tùy phiền não có 20: phẫn, hận, phú, não, tật, xan, cuống, siểm, hại, kiêu, vô tàm, vô qúi, trạo cử, hôn trầm, bất tín, giải đãi, phóng dật, thất niệm, tán loạn và bất chánh tri.
261. Nhiếp luận: “Đối với sanh tử niết-bàn, nếu nổi lên cái trí bình đẳng, thì bấy giờ do đó mà chứng được sanh tử tức niết-bàn. Do vậy, đối với sanh tử không phải xả bỏ không phải không xả bỏ, cũng tức là đối với niết-bàn không phải chứng đắc không phải không chứng đắc.” (H.T Thích Trí Quang dịch) Đây chính là niết-bàn vô trú.
262. Không trú ở vì không làm nghiệp và phiền não, nhưng tự tại thị hiện thì vẫn có làm.
263. Khởi tín luận: “Hỏi, pháp thân Như lai siêu việt sắc tướng, sao lại hiện được sắc tướng ? Đáp, vì chính pháp thân là bản thể của sắc tướng, nên biểu hiện được sắc tướng ấy.
Nghĩa là bản lai sắc với tâm không phải là hai phạm trù đối lập, mà sắc là tâm thể nên gọi là trí thân, tâm thể là sắc thể nên gọi là pháp thân. Do pháp thân này phổ biến khắp cả, nên sắc thân của các đức Như lai biểu hiện không có cục bộ, không hề gián đoạn; vô lượng Bồ tát trong vô lượng thế giới tùy năng lực và ý nguyện mà thấy được vô lượng thọ dụng thân với vô lượng trang nghiêm độ, khác nhau mà cùng siêu việt cục bộ, không chướng ngại lẫn nhau.
Nên sắc thân mà các đức Như lai biểu hiện không phải là cái mà tâm thức chúng sanh có thể nghĩ và biết được, vì đó là cái dụng tự tại của chân như.” (H.T Thích Trí Quang dịch)
264. Đoạn này nói thọ dụng thân của Phật. Thân ấy là sắc thân có thể thấy được, nhưng còn tùy theo sự thấy của thắng giải hay các chuyển thức chuyển y mới thấy được. Với thọ dụng thân, vô số chúng hội thấy khác nhau và ngay nơi một cá thể thấy thân ấy cũng trước sau khác nhau.
265. Đoạn này chỉ cho hóa thân của Phật. Tiểu thừa nói hóa thân là pháp thân. Đại thừa nói hóa thân chưa phải là pháp thân, bởi lẽ pháp thân mà nhập niết-bàn thì trái với thệ nguyện độ sanh của Phật. Nhập niết-bàn là hóa thân thị hiện với tác dụng độ sanh. Như lửa khi đỏ khi tắt mà không bao giờ không có, chư Phật cũng vậy, thị hiện thành chánh giác và thị hiện nhập niết-bàn mà không bao giờ không hiện hữu, vì Phật thì thường trú.
266. Vô công dụng: Không nhờ công dụng, nghĩa là tác dụng tự nhiên, không có sự cố gắng, tức là đạo lý nhậm vận tự tại mà không nhờ đến thân, khẩu, ý. Bồ tát từ Bát địa trở xuống chưa được tự tại đối với cảnh chân như, còn Bồ tát từ Bát địa trở lên mới có thể liên tục khởi thuần vô lậu và nhậm vận tự tại, nên gọi là vô công dụng. Tự tại làm lợi ích chúng sanh, gọi là vô công dụng địa. Nhưng nói theo Phật quả, thì Bồ tát từ Bát địa trở lên vẫn thuộc về hữu công dụng, chỉ có Phật quả là vô công dụng.
267. Phật sự là việc làm lợi ích chúng sanh của Phật. Việc làm ấy có loại không thường xuyên (nên có sanh diệt) là biến hóa thân và thọ dụng thân, có loại thường xuyên (nên không có gián đoạn) là tự tánh thân.
268. Nghiệp có dẫn nghiệp và mãn nghiệp, và 2 nghiệp này chiêu cảm 2 quả là tổng báo và biệt báo. Tổng báo, là quả báo tổng thể của dị thục như đường lành, đường dữ (, tức những nẻo đường sanh tử, do dẫn nghiệp của thức thứ 8 làm nghiệp chủ yếu chiêu cảm). Biệt báo, là quả báo sai biệt (trong tổng báo) như sống lâu hay chết yểu, giàu sang hay nghèo hèn, đẹp hay xấu v.v... (, muôn ngàn sai biệt, do mãn nghiệp của 6 thức trước làm tăng thượng duyên).
269. Vô lậu giới: Du già sư địa luận, quyển 52: “Nếu các pháp xuất thế gian đã sanh thì liền tùy chuyển, nên biết, đó là do lực của chuyển y đã nắm giữ một cách tự nhiên. Tuy nhiên, sự chuyển y này cùng với thức a-lại-da có sự tương phản. Sự đối trị thức a-lại-da gọi là vô lậu giới mà rời xa các hý luận.” Thành duy thức luận, quyển 10: “Các lậu vĩnh viễn sạch hết, vô lậu theo đó tăng lên, tánh trong sạch tròn sáng, cho nên gọi vô lậu. Chữ giới nghĩa là kho tàng, vì trong đó dung chứa vô biên đại công đức hy hữu. Giới cũng có nghĩa là nhân tố vì nó có thể sanh ra sự lợi lạc cho cả năm thừa thế gian và xuất thế gian.” Pháp uẩn túc luận, quyển 9, mục 24: “Thế nào là vô lậu giới? Đó là năm uẩn vô lậu, hư không trạch diệt, phi trạch diệt, gọi là vô lậu giới.”
270. Thế giới, hay vũ trụ vật lý, chuyển biến vô thường trong từng giai đoạn gọi là sanh, trú, dị, diệt (hay thành, trú, hoại, không). Giai đoạn này tiếp giai đoạn kia, từ sanh đến trú, gọi là có tăng; từ dị đến diệt, gọi là có giảm. Tuy nhiên, quá trình sanh, trú, dị, diệt cứ tiếp diễn đến vô tận, không có thời gian dứt mất: thế giới này diệt thì thế giới khác sanh, hoặc có khi thế giới này ở giai đoạn trú thì thế giới khác đang trong giai đoạn dị.
271. Pháp giới, tức pháp tánh, pháp thân, bản giác (tuệ giác vốn có), chân như: Tuệ giác của Phật được ví như khối thủy tinh trong suốt, vạn vật ảnh hiện đủ cả. Cái khối trong suốt ấy là tâm thể tách rời phân biệt. Pháp thân có nghĩa là Phật lấy tâm thể bản giác làm thân, và pháp thân ấy cũng gọi là trí thân. Khởi tín luận: “Tuệ giác là tâm thể tách rời phân biệt. Tâm thể tách rời phân biệt ấy chính là pháp tánh đồng nhất, đồng đẳng không gian, phổ biến toàn thể -- là pháp thân bình đẳng mà các đức Như lai đã chứng ngộ. Chính pháp thân này được gọi là tuệ giác vốn có. Nhưng gọi như vậy chỉ vì đối với tuệ giác mới có, mà tuệ giác mới có thì đồng nhất với tuệ giác vốn có.” (H.T Thích Trí Quang dịch)
272. Khởi tín luận: “Thể tính của tuệ giác thì … (như) là đài gương Nhân tố huân tập cho chúng sanh, tức là Có một cách đúng như sự thật: toàn thể vũ trụ biểu hiện ở đó, không xuất ra hay nhập vào, không biến thể hay hủy diệt, toàn là tâm thể đồng nhất và bất biến -- các pháp toàn là tâm thể mà tâm thể (= tự tánh) lại không nhiễm mọi sự nhiễm ô, tuệ giác bất động, nên sung mãn phẩm chất thuần khiết, làm nhân tố tác động cho chúng sanh tu hành.” (H.T Thích Trí Quang dịch)
273. Khởi tín luận: “Nói tâm thể phát khởi, nhưng thật ra không có khởi điểm. Nói khởi điểm thì chính là sự không còn phân biệt (= khách trần). Do vậy mà chúng sanh không được gọi là tuệ giác, vì lẽ xưa nay chúng sanh phân biệt liên tục, chưa hề tách rời phân biệt, và được gọi đó là sự bất giác có từ vô thỉ. Nếu thực hiện được sự tách rời phân biệt thì giác ngộ trạng thái phát sanh, tồn tại, dị biệt và hủy diệt (= sanh, trụ, dị, diệt) của tâm tướng, vì sự tách rời phân biệt thì đồng đẳng. Nên thật ra không có cái tuệ giác mới có nào khác, vì nó có cùng lúc và không độc lập với bốn trạng thái, trước sau đều là tuệ giác đồng nhất.” (H.T Thích Trí Quang dịch)
274. Khởi tín luận: “Nếu biết chiêm nghiệm tâm thể siêu việt phân biệt (chẳng phải tịnh, chẳng phải bất tịnh) thì thế là thích ứng mà hội nhập chân như.” (H.T Thích Trí Quang dịch)
275. Chánh văn là đệ nhất vô ngã.
276. Đại ngã: tức thật ngã, đại thân, pháp thân chân như thanh tịnh tuyệt bậc.
277. Chánh văn là đệ nhất ngã, tức là đệ nhất tối tự tại ngã, thắng ngã, đại ngã.
278. Pháp giới thì tách rời tất cả khái niệm, bản thể thuần nhất, bất biến: phi có, phi không, phi chẳng có chẳng không, phi cũng có cũng không v.v…. phi tất cả những khái niệm thuộc phạm trù 4 câu như vậy. Phi là khái niệm được tách rời để chống lại và hủy diệt khái niệm, do vậy sự giải thoát của pháp giới là do thánh trí thể hội từ bên trong, chứ không phải tư duy thường tình hiểu thấu.
279. Đoạn trừ phiền não chướng là tâm giải thoát. Hủy diệt sở tri chướng là tuệ giải thoát. Tạp a hàm, kinh Tỳ-kheo bệnh, số 1027, định nghĩa: “Này tỳ-kheo, vì tham dục trói buộc nên không ly được dục. Vì vô minh trói buộc nên tuệ không thanh tịnh. Cho nên tỳ-kheo, ở nơi dục mà ly dục nên tâm giải thoát; do ly vô minh nên tuệ giải thoát. Nếu tỳ-kheo nào, ở nơi mà dục ly dục, tự thân tác chứng tâm giải thoát; do ly vô minh nên tuệ giải thoát, đó gọi là tỳ-kheo đoạn các ái dục, chuyển kết phược, dừng ngã mạn, hiện quán, cứu cánh biên tế khổ.” (Thích Đức Thắng dịch)
280. Tùy thuận thân trước là tùy thuận cái thân ở địa vị tu nhân. Thân ấy là: 1.
Tùy loại hóa thân: cái thân biểu hiện theo thân của 6 loại chúng sanh; trong đó, nói về thân người, là biểu hiện làm người thân, kẻ thù, tỳ-kheo tăng v.v… để hóa độ; 2. Ứng thân: cái thân thường được gọi là đức Phật lịch sử, gọi là trượng lục úng thân hay liệt ứng thân; 3. Báo thân (= thọ dụng thân): thân Phật do các pháp ba-la-mật thành tựu.
Khởi tín luận: “Dụng của chân như là các đức Như lai khi còn ở trong địa vị tu nhân, nổi đại từ bi, làm ba-la-mật, giáo hóa chúng sanh với đại thệ nguyện đã lập ra là muốn cứu độ tất cả chúng sanh, cùng tận vị lai, không hạn thời kỳ. Các ngài làm như vậy là vì nhận chúng sanh làm thân mình, lại vượt trên khái niệm chúng sanh. Tại sao, vì các ngài đúng như sự thật mà nhận thức chúng sanh cùng với thân mình đồng nhất chân như.
Với sự nhận thức này làm một phương tiện lớn lao, các ngài hủy diệt bất giác, phát kiến pháp thân.” (H.T Thích Trí Quang dịch)
281. Phi thân, tức pháp thân: Cái thân siêu việt sắc tướng. Thân ấy chính là thực thể của Phật, tức là bản giác hay tâm thể chân như.
Khởi tín luận: “Hỏi, pháp thân Như lai siêu việt sắc tướng, sao lại hiện được sắc tướng ? Đáp, vì chính pháp thân là bản thể của sắc tướng, nên biểu hiện được sắc tướng ấy. Nghĩa là bản lai sắc với tâm không phải là hai phạm trù đối lập, mà sắc là tâm thể nên gọi là trí thân, tâm thể là sắc thể nên gọi là pháp thân.
Do pháp thân này phổ biến khắp cả, nên sắc thân của các đức Như lai biểu hiện không có cục bộ, không hề gián đoạn; vô lượng Bồ tát trong vô lượng thế giới tùy năng lực và ý nguyện mà thấy được vô lượng thọ dụng thân với vô lượng trang nghiêm độ, khác nhau mà cùng siêu việt cục bộ, không chướng ngại lẫn nhau. Nên sắc thân mà các đức Như lai biểu hiện không phải là cái mà tâm thức chúng sanh có thể nghĩ và biết được, vì đó là cái dụng tự tại của chân như.” (H.T Thích Trí Quang dịch)
282. Thị hiện tám tướng thành đạo, hiện biến hóa thân (thế gian thấy được), hiện tha thọ dụng thân (đại hội Bồ tát thấy được).
283. Năm thứ vẩn đục: Thời kỳ vẩn đục, kiến thức vẩn đục, tâm lý vẩn đục, con người vẩn đục, đời sống vẩn đục (kiếp trược, kiến trược, phiền não trược, chúng sanh trược, mạng trược).
284. Chủng chủng trí, tức nhất thiết chủng trí: là trí thông đạt tổng tướng cùng biệt tướng các pháp, chỉ cho trí của Phật.
285. Chánh văn là vô lậu giới, nên hiểu là vô lậu pháp giới, vì từ đầu đã nói đến.
286. Đắc chư nghĩa biến sở tác (得諸義遍所作): Chư nghĩa, là hoạt dụng của 5 căn (5 thức): 1. Căn cảnh định, thức bất định: như nhãn căn tiếp xúc với một cảnh, có nhiều thức theo đó phát sanh; 2. Cảnh thức định, căn bất định: như nhãn thức tùy dựa vào căn nào mà chỉ duyên với sắc; 3. Căn thức định, cảnh bất định: như nhãn căn chỉ phát sanh nhãn thức khi duyên các cảnh; 4. Căn định, thức cảnh bất định: như nhãn căn tùy theo thức nào phát sanh mà theo đó duyên theo cảnh nào. Biến sở tác, là 5 căn (5 thức) thông khắp 3 tánh thiện, ác và vô ký, và đối với ba cảnh chỉ duyên với tánh cảnh, trong ba lượng chỉ duyên với hiện lượng.
287. Ý căn, chỉ mạt-na thức: Là ý thức tự ngã: ngã si, ngã kiến, ngã mạn và ngã ái. Chính ý thức tự ngã này mà làm cho tâm thức tạp nhiễm, làm nhân cho khổ, rồi ý thức tự ngã này chuyển đổi đi thì chính nó làm cho tâm thức thanh tịnh. Do đó ý căn được gọi là nhiễm tịnh y. Nhưng ý căn thành được cực tịnh toàn là nhờ thức thứ sáu tu chỉ quán để đối trị sự chướng ngại của hoặc tạp nhiễm (ngã si, ngã kiến, ngã mạn, ngã ái) và chứng được sự thanh tịnh của ý lạc tăng thượng.
288. Cực tịnh vì không còn 2 chướng phiền não và sở tri. Không phân biệt năng thủ và sở thủ nên được trí vô phân biệt. Khi thức thứ 7 trở thành vô lậu (cực tịnh) thì tương ưng với bình đẳng tánh trí (vô phân biệt trí). Ở quả vị Phật, bình đẳng tánh trí có năng lực hóa hiện ra 10 loại tha thọ dụng thân, tức năng lực giáo hóa của Phật, và đối tượng được giáo hóa ở đây là Bồ tát thập địa.
289. Biến hóa tùy hành là khi ý căn chuyển thành cực tịnh và trí vô phân biệt, thì 5 căn cũng tùy hành theo sự chuyển của ý căn mà thành vô lậu. Biến hóa tùy hành là hóa hiện 3 loại hóa thân: 1. Thắng ứng thân, thân này cao 1 ngàn trượng, để giáo hóa hàng Bồ tát Đại thừa gia hạnh vị; 2. Liệt ứng thân, thân này cao 1 trượng 6, để giáo hóa hàng Bồ tát Đại thừa 3 tư lương vị; 3. Tùy loại hóa thân, thân này biểu hiện theo thân của 6 loại chúng sanh, bao gồm tam thừa và lục thú.
290. Sau khi chứng đắc chuyển y, ý thức phân biệt trở thành trí tuệ vô ngại đối với tất cả các pháp sở tri và cũng được vô ngại tự tại trong sự hiển hiện hóa thân và các việc làm hóa độ.
291. Khí thế giới, cũng gọi là khí thế gian (thế giới ở ngoài): Là thế giới làm đồ dùng của tự thể. Tự thể (nội xứ) là cái tổng thể gồm cả 6 giác quan. An lập là cái sở y của thức a-lại-da, tức bên trong biến thái thành chủng tử và thân có các căn; bên ngoài biến thái thành khí thế giới, rồi nó lấy ngay những gì được biến thái đó làm sở duyên và hành tướng, dựa vào đó mà sanh khởi.
292. Chỉ cho vô trú niết-bàn: bỏ tạp nhiễm (phiền não) mà không bỏ sanh tử, nên không trú nơi sanh tử, mà cũng không trú nơi niết-bàn.
293. Hai căn nam nữ xúc chạm giao hợp mà vẫn có được sự an lạc vô thượng của thiền định ly hý, và khi thấy người nữ không khởi tham dục, được sự tự tại.
294. Hư không tạng: Kho tàng hư không, là muốn gì cũng biến hóa được. Hư không giải: Thông suốt hư không, là quán chân như bằng ấn tượng mà thông suốt chân như nên tự tại du hành thần thông trong mọi thế giới. Định hư không giải có thể là tên gọi khác của định thủ lăng nghiêm, dịch nghĩa là kiện hành (đi tới mạnh mẽ), là sở hành của Phật và Bồ tát. Định hư không tạng và định thủ lăng nghiêm là 2 đại định quan trọng nhất trong các định tăng thượng.
295. Hy hữu vì hàng nhị thừa không thể làm được sự tương ưng Vô thượng bồ-đề và sự thành thục chúng sanh.
296. Trí vô phân biệt thì không tác ý, tầm tư và thọ tưởng. Dĩ nhiên, không tác ý như trạng thái hôn mê, không tầm tư như nhị thiền trở lên, không thọ tưởng như diệt tận định.
297. Các thiện căn vô lậu là các công đức tối thanh tịnh của pháp thân.
298. Hy hữu vì chư Phật làm thành việc lớn, như thị hiện thành đẳng chánh giác, thị hiện nhập niết-bàn v.v…, tất cả chúng sanh ai chưa thành thục thì Phật làm cho thành thục, ai thành thục rồi thì Phật làm cho giải thoát.
299. Tự tánh thanh tịnh của pháp giới: Pháp giới còn được gọi là chân như, không, thật tế, vô tướng, thắng nghĩa. Pháp giới thanh tịnh là tự tánh thanh tịnh của tánh chân thật đã thoát ly tất cả chướng ngại dơ bẩn.
300. Đối cảnh, chánh văn là các vật, chỉ cho tánh y tha nơi A-lại-da thức, tánh ấy có 2 đặc tánh: 1. Do chủng tử huân tập mà sanh ra; 2. Không cố định là nhiễm hay tịnh, nói cách khác, y tha khởi lên 2 phần: phần tạp nhiễm là tánh biến kế, phần thanh tịnh là tánh chân thật. Trí duyên là trí vô phân biệt duyên tánh y tha nơi A-lại-da thức; khi trí ấy có mặt nơi A-lại-da thức thì tánh chân thật thanh tịnh biểu hiện, mà tánh biến kế không biểu hiện.
301. Nhất thiết chủng như môn trí (一切種如門智): cách gọi khác của trí vô phân biệt. Nhất thiết chủng, vì trí vô phân biệt là nhân tố đưa đến nhất thiết chủng trí của Phật. Như môn, vì trí vô phân biệt duyên với pháp tánh ly ngôn, tức chân như vô ngã. Trí vô phân biệt cũng tức là tuệ ba-la-mật, vì 5 ba-la-mật là trợ bạn của trí vô phân biệt.
302. Hai quả là đại bồ-đề và đại niết-bàn. Tu tập trí vô phân biệt thì dứt được hai chướng thô trọng nơi a-lại-da thức, tức chuyển bỏ phần biến kế (tạp nhiễm) của tánh y tha nơi a-lại-da và chuyển được phần viên thành (thanh tịnh) của tánh y tha nơi a-lại-da.
Do chuyển phiền não chướng được đại niết-bàn, chuyển sở tri chướng đắc Vô thượng giác. Theo Thành duy thức, đại niết-bàn là: tánh tịnh niết-bàn (chân như bản lai thanh tịnh), hữu dư niết-bàn (chân như xuất phiền não chướng), vô dư niết-bàn (chân như xuất sanh tử khổ) và vô trú niết-bàn (chân như xuất sở tri chướng). Vô trú niết-bàn được đại bi, đại trí vĩnh viễn phụ lực nên không ở sanh tử, không trú niết-bàn, lợi lạc chúng sanh, tận cùng vị lai hoạt dụng mà thường tịch.
Đại bồ-đề là: đại viên cảnh trí (chuyển thức thứ tám), bình đẳng tánh trí (chuyển thức thứ bảy), diệu quán sát trí (chuyển thức thứ sáu) và thành sở tác trí (chuyển năm thức trước). Theo Nhiếp luận, 4 trí này phối nhiếp 3 thân, nên đại bồ-đề có chỗ nói về 3 thân.
303. Pháp giới thanh tịnh (tức pháp thân) là do làm sạch nghiệp chướng mà biểu hiện biến hóa thân, do làm sạch hoặc chướng mà biểu hiện thọ dụng thân, do làm sạch trí chướng mà pháp thân tự biểu hiện.
304. Sắc thái chuyển y của Như lai (đã trình bày ở trước) bao gồm chuyển ly, chuyển đắc và 10 thứ công đức sai biệt.
305. Đại tập chúng hội của chư Phật: là đại hội gồm toàn chư vị Bồ tát. Thân Phật mà chúng hội nhìn thấy là tha thọ dụng thân của Phật và tịnh độ mà có đại tập hội này là tha thọ dụng độ của Phật.
306. Giáo hóa và lợi ích chúng sanh bằng 8 tướng thành đạo.
307. Thị hiện hóa thân bao gồm hóa thân của Phật và những hóa thân khác. Cùng lúc hóa thân Phật nhập thai thì cũng hóa thân thành tôn giả Xá lợi phất v.v… nhập thai. Hóa thân như vậy để làm tôn nghiêm cho sự thành Phật của một đức Phật.
308. Thân hình mà hóa thân chư Phật thị hiện gồm có mọi loài, đủ hạng trong mỗi loài, đủ từ thân Phật đến thân địa ngục, kể cả thị hiện “rừng núi, dòng nước, đồng bằng, sông ngòi, ao hồ, suối giếng, ích lợi khắp cả mọi người, ai cũng được độ thoát.” (kinh Địa Tạng)
309. Thực thân và hóa thân đều dựa vào pháp thân mà có.
310. Hóa hiện kỹ nghệ (công xảo) là hiện thân làm người thợ mộc, thợ gốm, thợ in ấn, thầy dạy âm nhạc, nhà toán học v.v…
311. Đức Phật thị hiện giáng sanh, đắc bồ-đề và nhập niết-bàn là đức Phật lịch sử. Tiểu thừa nói hóa thân ấy đã là pháp thân, nhưng Đại thừa nói đức Phật lịch sử là hóa thân, không phải pháp thân.
312. Chư Phật đồng nhất pháp thân, vô lượng thọ dụng thân nhiếp vào thực thân, vô lượng ứng hóa thân nhiếp vào hóa thân.
313. Tức thị hiện thọ dụng thân và hóa thân, vì hai thân này là sắc thân, có thể thấy được.
314. Chư Phật đẳng chứng pháp tánh, nên được 5 thứ tánh hỷ: “Một là năng lực vô lượng, hai là sự thành vô lượng, ba là pháp vị viên mãn, bốn là nghĩa đức viên mãn, được 4 sự tánh hỷ này thì tối thắng, không tội lỗi, năm là thấy thường vô tận.” Năng lực là năng lực của pháp tánh. Sự thành là thành tựu sự nghiệp độ sanh. Pháp vị là diệu nghĩa của pháp tánh đẳng lưu. Nghĩa đức, nghĩa là niết-bàn, đức là công đức vô lậu. Thấy thường là thấy pháp tánh thường trú. Năm sự này đem lại sự đại hoan hỷ của Phật, và xuất sanh từ pháp tánh mà Phật đẳng chứng, nên gọi là tánh hỷ. (Nhiếp luận, H.T Thích Trí Quang dịch chú)
315. Chư Phật lấy tâm thể bản giác làm thân. Tâm thể ấy tách rời phân biệt, chính là pháp tánh đồng nhất, đồng đẳng không gian, phổ biến toàn thể.
316. Tức đại viên cảnh trí, bình đẳng tánh trí, diệu quán sát trí và thành sở tác trí.
317. Bất tác duyên tố phần đoạn: không khởi chấp trước (ngã và ngã sở), phân biệt (năng thủ và sở thủ) gì cả.
318. Hiện hành không gián đoạn: làm hiển hiện và xuất sanh tất cả cảnh giới, ảnh tượng của các trí, sở y của ảnh tượng các thân và quốc độ, nhiệm trì hết thảy công đức của Phật địa, không gián đoạn, suốt cùng vị lai.
319. Liễu tri tất cả cảnh giới: không quên sót, không ngu mê đối với tướng của tẩt cả cảnh.
320. Chướng ngại vĩnh viễn đoạn tận: đối với các pháp sở tri, vĩnh viễn thoát ly dơ bẩn của hết thảy phiền não chướng, chủng tử hữu lậu.
321. Ly các hành tướng, duyên vô phân biệt: hành tướng và sở duyên của cảnh trí vi tế khó biết, nói cách khác, hành tướng thì phi sắc thái danh ngôn và sở duyên là pháp tánh ly ngôn.
322. Chứng pháp hiện tiền là nhập chân kiến đạo, tức loại trừ đối tượng sở duyên là pháp giả danh về hữu tình và các pháp, cũng như đoạn trừ tất cả phiền não thô trọng thuộc loại kiến sở đoạn. Bồ tát khi vào chân kiến đạo, vì trái nghịch với hai thứ chấp (ngã và pháp) mà dẫn khởi bình đẳng tánh trí, quán chiếu hết thảy pháp, tự và tha, hết thảy hữu tình, thảy đều bình đẳng, luôn luôn cùng tương ưng với đại từ bi v.v…
323. Nhiếp luận: “Làm sao biết, trong pháp thân, Phật không rốt ráo có nhập niết-bàn, cũng không rốt ráo không nhập niết-bàn? Ở đây có 1 bài chỉnh cú: Vì tất cả chướng ngại đều đã giải thoát, nên Phật rốt ráo có nhập niết-bàn; nhưng việc làm của Phật thì không bao giờ kết thúc, nên Phật rốt ráo không nhập niết-bàn.” (H.T Thích Trí Quang dịch)
324. Kệ tụng này có 2 ý chính: 1. Chứng pháp hiện tiền thì được cái tâm bình đẳng đối với mình người; 2. Không nhập niết-bàn vì sự nỗ lực thành thục chúng sanh không bao giờ ngừng nghỉ.
325. Tất cả cảnh giới: tướng riêng và tướng chung của các pháp. Tướng chung là các hành là vô thường, tất cả hành là khổ, các pháp là vô ngã, niết-bàn là tịch tĩnh. Tướng riêng là tự thể riêng biệt của mỗi pháp.
326. Quán trí nhiếp lấy vô lượng đà-la-ni môn và tam-muội môn, và công đức trân bảo phát sanh từ sự quán trí ấy.
327. Thành duy thức luận: “Ở trong các tập hội đại chúng, quán trí tự tại thị hiện vô biên tác dụng sai biệt, làm mưa cơn mưa lớn chánh pháp, dứt trừ mọi nghi hoặc, khiến cho hữu tình thảy đều được lợi lạc.” (Thích Tuệ Sỹ dịch)
328. Thành duy thức luận: “Tâm phẩm này (tác sự trí), vì muốn lợi lạc hữu tình, nên khắp trong cả mười phương thị hiện ba nghiệp được biến hóa qua nhiều hình thái, hoàn thành những điều cần làm theo lực của bản nguyện.” (Thích Tuệ Sỹ dịch)
329. Nhiếp trì, nghĩa là nhận giữ: nhận giữ chánh pháp là căn bản tối quan trọng của sự phát bồ-đề tâm. Nhận giữ chánh pháp bằng tu tập các ba-la-mật, như kinh Thắng Man ghi: “Bạch đức Thế tôn, không có ba-la-mật nào khác, không có sự thu nhận chánh pháp nào khác, mà sự thu nhận chánh pháp chính là ba-la-mật.” (H.T Thích Trí Quang dịch)
330. Vì đồng thời có vô lượng người viên thành quả vị Phật đà.
331. Sự phân biệt hư vọng của tánh biến kế bị loại bỏ thì tánh chân thật hiển lộ, khi đó Bồ tát phát sanh bình đẳng trí, không phân biệt năng tri và sở tri, “nhập vào Cực hỷ địa, đạt được pháp tánh, sanh nhà Như lai, được tâm bình đẳng đối với chúng sanh, tâm bình đẳng đối với Bồ tát, tâm bình đẳng đối với Phật đà. Và đó là kiến đạo vị của Bồ tát.” (Nhiếp luận)
332. Tu mà không thấy năng thủ và sở thủ, ba luân không tịch.
333. Phật quả là pháp tánh chân như vô tướng, viễn ly tất cả hý luận và thác loạn, tự tại đối với hữu tướng.
334. Xin xem thêm kinh Vị tằng hữu pháp, số 32, Trung A hàm, hay kinh Hy hữu vị tằng hữu pháp, số 123, Trung bộ kinh. Tám tướng thành đạo của Phật là những pháp vị tằng hữu, thí dụ: “Con nghe rằng, khi Đức Thế Tôn vừa mới sanh ra, từ trên hư không nước mưa rưới xuống, một ấm, một lạnh, để tắm thân thể của Thế Tôn. Nếu khi Đức Thế Tôn vừa mới sanh ra, từ trên hư không nước mưa rưới xuống, một ấm, một lạnh, để tắm thân thể của Thế Tôn; con xin thọ trì pháp vị tằng hữu ấy của Đức Thế Tôn.” (Thích Tuệ Sỹ dịch)
335. Ngoài ra, theo Nhiếp luận, có 4 lực để mau thành tựu bồ-đề: 1. Lực chánh nhân, là có sự huân tập đa văn pháp nghĩa Đại thừa; 2. Lực thiện hữu, là được thân cận và phụng sự chư Phật (bao gồm quán Phật là pháp vị tằng hữu); 3. Lực tác ý, là thắng giải chắc chắn; 4. Lực nhiệm trì, là cụ bị 2 loại tư lương phước và trí.
336. Quán chiếu danh, nghĩa, tự tánh và sai biệt của các pháp toàn là giả thiết, chỉ là ý thức. Chính ý thức tạo ra ấn tượng tương tự về danh, nghĩa, tự tánh và sai biệt của các pháp, nên các pháp toàn là không thật, không thể thủ đắc.
337. Bạch pháp thành tựu là viên mãn 6 ba-la-mật mà được 10 tự tại.
338. Chánh thọ là chánh định hiện tiền, tức trạng thái thiền định đã dứt hết loạn tưởng, duyên lự, lãnh thọ được cảnh sở quán. Đức tin chánh thọ là đức tin qua thiền định. Còn phan duyên, chưa được chánh định là đức tin tự thọ (lãnh thọ tương tự).
339. Tin tưởng như 62 kiến chấp của ngoại đạo là điên đảo.
340. Tin tưởng 4 pháp ấn của Phật (vô thường, khổ, vô ngã và niết-bàn hay vô thường, khổ, vô ngã và không) là không điên đảo.
341. Đức tin vào 4 đế, 8 thánh đạo, 4 thánh quả thì không chướng ngại vì toàn là những cái có thể thực hiện ngay trong hiện tại.
342. Đức tin vào pháp tánh chân như, có chướng ngại vì siêu việt hý luận và vì hai chướng chưa đoạn.
343. Đức tin đã phát sanh nhưng lung lay, thay đổi bởi tà thuyết, ngoại đạo.
344. Đức tin đã phát sanh nhưng thiếu tâm cung kính.
345. Đức tin không dao động, không lui sụt và không gián đoạn.
346. Đức tin của Bồ tát ở tư lương vị thuộc thắng giải hành vị, vì còn sự cố chấp và phiền não làm chướng ngại.
347. Đức tin của Bồ tát 10 tín trở lên, vì có được đức tin toàn hảo.
348. Đức tin do dồn chứa hai thứ tư lương phước đức và trí tuệ.
349. Quên mất là thiếu tác ý mến trọng, tùy hỷ và vui thích giáo pháp mà mình tu tập.
350. Thiếu tinh tiến tu tập thì tịnh tín không sanh, huống là thành tựu sự không thoái chuyển.
351. Tác ý phi lý về thường, lạc, ngã và tịnh.
352. Phóng dật là do tham, sân, si và thác loạn làm duyên tố.
353. Giáo pháp liễu nghĩa là kinh điển trình bày chân thật nghĩa (đệ nhất nghĩa đế), tức kinh điển Đại thừa hay Bồ tát tạng.
354. Chỉ ưa nghe pháp, thỏa mãn trong sự nghe ấy mà không tư duy và tu tập.
355. Tác ý đúng lý mả không tu chỉ quán, và có tu chỉ quán mà không có thắng quán. Thắng quán là: 1. Lấy giáo pháp Đại thừa làm đối tượng; 2. Nuôi giữ bằng 2 loại tư lương phước đức và trí tuệ; 3. Thông suốt nhân vô ngã và pháp vô ngã; 4. Thể nhập chân như chánh định, là không bám sự thấy và không ham sự được; 5. Không cầu quả báo dị thục khả ái.
356. Đức tin hiện tại (đức tin đã phát sanh) có năng lực tăng thượng phước đức rộng lớn vì phát sanh tịnh tín đối với chánh pháp.
357. Đức tin quá khứ (đức tin đã phát sanh) là đời trước đã sanh tịnh tín đối với chánh pháp, nuôi lớn thiện căn, nên đời này không có hối tiếc vì không có thiện căn.
358. Chánh đạo là bát chánh đạo (con đường tám chánh): chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tiến, chánh niệm và chánh định. Quy nạp tám chánh đạo thành tam vô lậu học của Bồ tát: giới tăng thượng, định tăng thượng và tuệ tăng thượng.
359. Không thoái lui đối với giáo pháp Đại thừa, không từ bỏ sanh tử.
360. Được cái định không còn gián đoạn (vô gián định) thì đứng bên cạnh hiện quán, tức gần được tuệ giác vô lậu chứng được chân thật. Từ đó ngộ nhập duy thức, hiện chứng pháp tánh, được kiến đạo vị, bước vào các địa.
361. Qui tàng lục: Rùa thu rút 6 chi (đầu, đuôi và 4 chân) vào mai, chỉ cho sự thu nhiếp 6 căn không cho 6 trần làm nguy hại. Tạp a hàm, quyển 43, kinh Con rùa, số 1167: “Này các tỳ-kheo, ngày nay các ông cũng lại biết như vậy.
Ma Ba tuần luôn luôn dò xét tìm cơ hội bên các ông. Mong đợi mắt các ông đắm sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân xúc chạm, ý nhớ pháp mà xúi dục sanh tâm đắm nhiễm sáu trần. Cho nên tỳ-kheo, các ông phải luôn luôn giữ gìn luật nghi của mắt.
Khi đã giữ gìn an trụ nơi luật nghi của mắt rồi, dù mắt có sanh khởi hoặc duyên cảnh đi nữa thì ác ma Ba tuần cũng không thể tìm được cơ hội. Tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng lại như vậy. Dù sáu căn kia có sanh khởi hoặc duyên cảnh đi nữa, thì chúng cũng không thể tìm được tiện lợi.
Giống như con rùa (thu hết đầu đuôi và bốn chân vào trong mai), dã can không thể tìm được cơ hội nào (ăn thịt).” (Thích Đức Thắng dịch)
362. Thiền định thế gian bao gồm thiền định ngoại đạo và thiền định phàm phu. Người tu thiền định ngoại đạo thì mang theo những suy luận thuần lý đầy tham ái và chấp thủ kiến mà tu 6 hành quán (còn gọi là hân yểm quán: yểm khổ, thô và chướng, hân tịnh, diệu và ly).
Họ tu tập thiền định qua con đường “nhiệt tâm, tinh tiến, cần mẫn, không phóng dật, chánh ức niệm nên tâm nhập định”. Do tâm nhập định họ biết được nhiều đời sống quá khứ, nhiều thành kiếp hoại kiếp, nhiều trăm ngàn thành kiếp, hoại kiếp, và họ chấp thủ vào cái thấy qua ký ức giới hạn ấy. Đức Phật đã xác nhận, “các kiến chấp của họ là do xúc phạm các căn”, do “cảm thọ qua các định” và “do bị tham ái chi phối” mà có (Trường bộ kinh, kinh Phạn võng).
Kết quả tu tập thiền định ngoại đạo là do tu tập thuần túy thiền chỉ và thiếu sự giác tỉnh về vô ngã tính, duyên sanh tính của các pháp nên rơi vào tham ái và chấp thủ, dù họ có thể vào đến định Phi tưởng phi phi tưởng và thấy được rất xa các đời quá khứ về con người và thế giới. Người tu thiền phàm phu thì chánh tín nhân quả mà tu 6 hành quán.
363. Chúng sanh trong nhân đạo thì vô hạn là nói đồng thời có vô lượng người viên thành quả vị Phật, và chỉ có con người mới đầy đủ nhân tố để thành Phật. Thế giới trong mười phương thì vô hạn là nói vô lượng thế giới, vô lượng đại lục Thiệm bộ cùng lúc đều có Phật xuất hiện, và vì thế giới vô lượng nên không có 2 đức Như lai cùng xuất hiện trong một thế giới. Từng sát-na tiếp nối cùng tận vị lai biên tế thì vô hạn là nói trong mọi thời gian đều có người viên thành quả vị Phật.
364. Là nghi hoặc về đối tượng của sự tu hiện quán mà có thủ đắc, như thủ đắc về: 5 uẩn, 12 xứ, 12 duyên khởi, 4 thực, 4 đế, 18 giới và 37 giác phần (: 4 niệm trú, 4 chánh cần, 4 thần túc, 5 căn, 5 lực, 7 giác chi và 8 thánh đạo).
365. Tức nhận thức các pháp mà mình thủ đắc chính là chân như thắng nghĩa bất nhị, phổ biến toàn thể và đồng nhất tánh vị.
366. Cái có … cái không: Cái có là thấy có 5 dục. Cái không là 62 kiến chấp, mà toàn là không phải sự thấy chính xác.
367. Pháp của Phật dạy không ngoài hai thứ là pháp vô lậu thắng nghĩa (niết-bàn) và pháp hữu lậu pháp tướng. Trí tuệ quán sát pháp tướng và chứng nhập niết-bàn thì gọi là đối pháp trí hay A-tỳ-đàm (a tỳ đạt ma).
368. Ba học: giới học, tâm học và tuệ học.
369. Trung A hàm, Tương ưng tập, kinh Hà Nghĩa nói tiến trình từ giữ giới đưa đến định như sau: “Một thời Đức Phật trú tại nước Xá vệ, trong rừng Thắng Lâm, vườn Cấp Cô Độc. Bấy giờ vào lúc xế chiều, tôn giả A nan rời chỗ độc cư tĩnh tọa đứng dậy, đến trước đức Phật, đảnh lễ dưới chân rồi ngồi sang một bên, thưa rằng: Bạch Thế Tôn, giữ giới có mục đích gì?.
Đức Thế Tôn Đáp: Này A Nan, giữ giới có mục đích khiến cho không hối hận. Này A Nan, nếu ai giữ giới, người ấy được sự không hối hận. Bạch Thế Tôn, không hối hận thì có mục đích gì?
Này A Nan, không hối hận thì có mục đích khiến cho được hân hoan . A Nan, nếu ai không hối hận, người ấy được sự hân hoan. Bạch Thế Tôn, hân hoan có mục đích gì?
Này A Nan, hân hoan có mục đích khiến cho có hỷ. Này A Nan, nếu ai hân hoan, người ấy có hỷ. Bạch Thế Tôn, hỷ có mục đích gì?
Này A Nan, hỷ có mục đích khiến cho an chỉ. Này A Nan, nếu ai có hỷ, người ấy có an chỉ của thân. Bạch Thế Tôn, an chỉ có mục đích gì?
Này A Nan, an chỉ có mục đích khiến cho lạc. A Nan, nếu ai có an chỉ người ấy có cảm thọ lạc. Bạch Thế Tôn, lạc có mục đích gì?
Này A Nan, lạc có mục đích khiến cho có định. A Nan, nếu ai có lạc người ấy có định. ….” (Thích Tuệ Sỹ dịch)
370. Trước hết cần hiểu nghĩa đảo ngược (điên đảo nghĩa): đối với thân tâm (5 sắc căn, tâm ý thức và các tâm sở) và thế giới của thân tâm, chúng sanh sống và thọ dụng trong đó, nhưng có ý tưởng thác loạn, tâm thác loạn, thấy thác loạn cho “vô thường là thường, khổ là vui, bất tịnh là tịnh, vô ngã là ngã”. Nghĩa không đảo ngược (bất điên đảo nghĩa) là mâu thuẫn với những sự đảo ngược ở trên, và có sức đối trị những sự đảo ngược ấy.
371. Pháp là chánh pháp, giáo pháp, pháp môn. Nghĩa là nghĩa lý của pháp.
372. Trường hợp tôn giả Xá lợi phất và tôn giả Mục kiền liên chứng đắc a la hán do nghe một bài kệ ngắn, hay tôn giả Kiều trần như trở thành một bậc thánh Nhập lưu do nghe một bài pháp ngắn là kinh Chuyển pháp luân (Dhammacakkappavattana Sutta).
373. Theo Nhiếp Đại thừa luận thích luận, chương Vô đẳng thánh giáo ghi: “Lại nữa Tỳ na da có bốn thứ nên biết: 1. Tội lỗi; 2.
Duyên khởi; 3. Hoàn tịnh; 4. Xuất ly.
Tội lỗi là ngũ thiên tội. Duyên khởi là sự sanh khởi tội, có bốn nguyên do: một là vô tri, hai là phóng dật, ba là phiền não mạnh mẽ, bốn là tâm không tôn trọng. Hoàn tịnh là nhờ tịnh tâm nên chẳng cần pháp trị phạt, đó là nhờ sự nhiếp trì cấm giới.
Xuất ly có bảy loại: một là tự nói lời phát lồ; hai là đem những học pháp ra mà trị phạt; ba là một mặt cấm đoán bằng cách lập ra những học cú, lại cho nghe những đạo lý riêng biệt; bốn là giải bỏ, là chúng tăng cùng đồng ý giải tội; năm là chuyển thân, là Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni chuyển đổi nam nữ căn mà không cùng tội; sáu là quán chân thật, là tác thắng quán pháp trong uất đà na; bảy là được pháp như vậy, là đã được kiến đạo.”
374. Ngũ tụ tội: Còn gọi là ngũ chúng tội, ngũ chúng tụ tội, ngũ thiên tội. Đó là tội Ba la di, tội Tăng tàn, tội Ba dật đề, tội Thâu lan giá và tội Đột cát la.
375. Phiền não vừa thô trọng, vừa lừng lẫy.
376. Ngăn chận bằng phương pháp sám hối, tức đối trước 1 vị tỳ-kheo hay 4 vị tỳ-kheo mà phát lồ sám hối.
377. Tỳ-kheo nào vi phạm tội Ba-la-di thì mất tỳ-kheo giới và buộc phải khai trừ vĩnh viễn ra khỏi Tăng đoàn. Tuy nhiên, trường hợp người phạm biết ăn năn hối hận, nếu bắt tội không cho sám hối thì họ có thể buồn nản và tự tử.
Họ thương chiếc áo ca-sa, ưa đời sống tu sĩ quá, vì vậy khi phạm họ cũng rất ăn năn hối hận. Trường hợp này luật cũng cho phép họ học pháp Ba-la-di (dữ học, 與學). Người muốn học pháp Ba-la-di cũng đối trước chúng Tăng 20 người để xin phép và chúng Tăng 20 người yết-ma cho phép học pháp Ba-la-di.
Ngoài ra còn phải trọn đời thọ trì 35 việc, thành vị dữ học tỳ-kheo (Thập tụng luật gọi là dữ học sa-di). Khi được phép rồi vẫn không được tham dự Tăng sự, chỉ được giữ hình thức tu sĩ ở trong chùa, làm các khổ hạnh, thừa sự đại chúng tỳ-kheo, trọn đời ở dưới các vị tỳ-kheo thanh tịnh, nhưng được ở trên các vị sa-di.
378. Phật dạy tỳ-kheo không ăn quá giờ ngọ, trừ một vài trường hợp như khi đau ốm, luật cũng châm chước cho được ăn cơm cháo sau giờ ngọ, nhưng khi ăn phải sanh lòng hổ thẹn.
379. Tỳ-kheo chuyển nam căn có 4 căn bản tội, tỳ-kheo ni chuyển nữ căn có 8 căn bản tội. Số mục căn bản tội của hai người không giống nhau. Tỳ-kheo chuyển căn thành tỳ-kheo ni mà trước đó đã phạm tỳ-kheo giới thì không cùng tội như tỳ-kheo ni; sau khi chuyển căn làm tỳ-kheo ni, tuy chưa sám hối, cũng có thể hoàn tịnh. Tỳ-kheo ni chuyển căn cũng xét như vậy.
380. Ưu đà na (Udana nghĩa là tự thuyết), là kinh Phật tự nói chứ không ai hỏi được (vô vấn tự thuyết). Ở đây là chỉ cho kinh Pháp ấn, nói về ba cánh cửa giải thoát (tam giải thoát môn): không, vô tướng và vô tác (vô thường, vô ngã và khổ). Tỳ-kheo quán chiếu ba pháp ấn này mà đạt giải thoát bằng trí tuệ. Những tội vi tế được giải thoát bằng thắng quán này.
381. Pháp nhĩ: các pháp là thế đó, tức nói các pháp thường đồng thường biệt (thường duy nhất mà thường sai biệt). Như nói, tâm thể thì duy nhất nhưng tâm dụng có sai biệt.
382. Pháp sở duyên (sở duyên pháp): Tất cả pháp toàn là sở duyên của tâm và tâm sở pháp; như 6 thức và pháp tương ưng của nó duyên với 6 trần.
383. Bước đầu tu quán (tỳ-bát-xá-na) là tu 4 niệm xứ, theo thứ đệ: 1. Tu biệt tướng 4 niệm xứ, là quán riêng 4 thứ thân, thọ, tâm, pháp; 2. Tu pháp niệm xứ tổng tạp (chung 2 đến 4 niệm xứ mà quán), là quán cả 4 thứ đều vô thường, khổ, không, vô ngã (gọi là 4 hành tướng).
384. Vô nhị nghĩa, tức không có hai nghĩa: là có và không không hai, là năng thủ và sở thủ không hai.
385. Nghĩa năng thủ là 5 sắc xứ ở trong (hay 5 sắc căn), tức tâm ý thức và các tâm sở. Nghĩa sở thủ là 6 xứ ở ngoài. Quán riêng nghĩa sở thủ và nghĩa năng thủ, là ngoại quán nhiều hơn nội quán. Quán riêng nghĩa năng thủ và nghĩa sở thủ, là nội quán nhiều hơn ngoại quán.
386. Nghĩa năng thủ cũng chính là nghĩa sở thủ.
387. Tịnh trì ý ngôn cảnh: Ý thức (ý ngôn) thuộc chủng loại đa văn huân tập giáo pháp và thuộc về tác ý đúng lý, mà kiến phần của nó có cái ấn tượng tương tự pháp và nghĩa, từ ý thức đó tu tập thêm lên thì thấy pháp và nghĩa chỉ là ý thức, chỉ là giả thiết.
388. Chỉ cho cực tịnh cảnh.
389. Theo Nhiếp luận, có 11 thức: “Các thức ấy là gì? Là thức thân, thức chủ thể của thân, thức chủ thể của sự tiếp nhận, thức được tiếp nhận, thức tiếp nhận, thức thì gian, thức số mục, thức thế giới cư trú, thức nói năng, thức mình người, thức đường lành đường dữ.” Thân (thân) là cái tổng thể gồm có 5 giác quan.
Chủ thể của thân (thân giả) là ý ô nhiễm. Chủ thể của sự tiếp nhận (thọ giả) là ý vô gián diệt. Được tiếp nhận (bỉ sở thọ) là 6 cảnh.
Tiếp nhận (bỉ năng thọ) là 6 thức. Thời gian (thế) là vị lai hiện tại quá khứ liên tục. Số mục (số) là những số mục hàng lẻ, hàng chục, v.v...
Thế giới cư trú (xứ) là thế giới chúng sanh cư trú. Nói năng (ngôn thuyết) là ngôn ngữ xuất từ thấy nghe hay biết. Mình người (tự tha sai biệt) là bản thân với tha thân.
Đường lành đường dữ (thiện thú ác thú tử sanh) là những nẻo đường sanh tử. Tất cả 11 thứ này đều gọi là thức, là vì liên hệ đến thức, do thức biểu thị. (H.T Thích Trí Quang dịch chú)
390. Nghĩa là nghĩa của các pháp. Nghĩa quang là cái ấn tượng tương tự về nghĩa bởi ý thức.
391. Tức nghĩa quang chỉ là ý thức.
392. Chỉ có danh, tức chỉ là giả thiết. Đây là ở trong tâm tùy thuận tâm mà tu quán niệm xứ.
393. Thanh văn tác ý tứ đế; Duyên giác tác ý duyên sanh; Bồ tát tác ý nhân vô ngã và pháp vô ngã.
394. Tác ý của Bồ tát ở thắng giải hành vị (gồm cả tư lương vị và gia hành vị của Duy thức luận).
395. Người tại gia tác ý dục, sân và hại, nên bị dồn ép, khốn đốn. Người xuất gia tác ý ly dục, vô sân và vô hại, nên không bị dồn ép, không bị khốn đốn. (kinh Song tầm, Trung bộ kinh)
396. Nhiếp luận: “Nếu các Bồ tát niệm pháp thân của Phật, thì nên niệm bằng mấy mặt? Đại lược mà nói, thì Bồ tát niệm pháp thân của Phật bằng 7 mặt sau đây.
Một là chư Phật hoàn toàn tự tại đối với tất cả các pháp, nên niệm Phật như vậy, vì Phật thì thần thông vô ngại đối với toàn thể các thế giới hệ. Hai là thân chư Phật thường trú, nên niệm Phật như vậy, vì Phật thì chân như đã vô gián thoát hết dơ bẩn. Ba là chư Phật tối thắng, không tội lỗi, nên niệm Phật như vậy, vì Phật thì tất cả phiền não chướng và sở tri chướng đều đã thoát ly.
Bốn là chư Phật không còn dụng công, nên niệm Phật như vậy, vì Phật thì không còn dụng công mà mọi việc Phật làm đều không ngừng nghỉ. Năm là chư Phật hưởng thụ rất giàu vui, nên niệm Phật như vậy, vì tịnh độ của Phật thì rất giàu vui. Sáu là chư Phật rời hết ô nhiễm, nên niệm Phật như vậy, vì Phật thì sống trong đời mà việc đời không thể ô nhiễm.
Bảy là chư Phật làm thành việc lớn, nên niệm Phật như vậy, vì Phật thì thị hiện thành đẳng giác, thị hiện nhập niết-bàn, v/v, tất cả chúng sanh ai chưa thành thục thì Phật làm cho thành thục, ai thành thục rồi thì Phật làm cho giải thoát. Chư Phật viên mãn những mặt như vậy, người có trí nên niệm chư Phật về mọi mặt ấy.” (H.T Thích Trí quang dịch)
397. Đối với Tam bảo, Đại thừa sanh khởi tín tâm, hoan hỷ và phát quảng đại nguyện. Như luận Đại thừa trang nghiêm kinh, phẩm Quy y, thứ 3 có ghi: “Sự quy y của Đại thừa có ba thứ thù thắng dũng mãnh: 1. Nguyện thù thắng dũng mãnh, là khi quy y Phật thì cầu quả đại bồ-đề, sanh nhiều hoan hỷ và biết công đức thù thắng (của sự quy y ấy); 2. Hạnh thù thắng dũng mãnh, là khi khởi sự tu hành thì không lùi bước, khuất phục trước những khổ hạnh khó làm; 3. Quả thù thắng dũng mãnh, là (từ nay) cho đến khi thành Phật cùng với tất cả chư Phật bình đẳng trong bản thể viên giác.”
398. Tác ý an trú thiền định: chỉ cho tứ thiền, bát định, cho đến ba tam-muội. Ba tam-muội chỉ cho ba định hay ba chánh định, đó là: 1. Không môn, tức là lúc hành giả vào định, quán tất cả các pháp đều không, không có ngã cùng ngã sở, các hành đều vô thường, không chân thật. 2. Vô tướng môn, còn gọi là vô tưởng, vì nhờ quán nhân không nên hành giả không khởi lên ý niệm chấp thủ vào tướng các pháp. 3. Vô nguyện môn, còn gọi là vô tác, vô dục, vì nhờ quán vô tướng đối với các pháp nên đối với sự tương tục sanh tử đời vị lai không khởi lên mong cầu ái nhiễm nữa.
399. Phương tiện là giới, định, đặc biệt là chánh niệm. Chánh niệm là tư duy và ký ức được tập trung vào chánh pháp mà mình văn, tư, tu.
400. Tu-đa-la (Sutra, tức là khế kinh) là thể văn trường hàng trong các kinh nói thẳng pháp nghĩa. Ưu-đà-na (Udana, tức là tự thuyết, hay vô vấn tự thuyết) là Phật tự nói chứ không có ai hỏi. Già-đà (Gāthā, tức là phúng tụng hay cô khởi tụng) là thể văn chỉnh cú không theo trường hàng mà tự nói pháp nghĩa. A-ba-đà-na (Avadāna, tức là thí dụ) là nói những thí dụ [để thuyết pháp].
401. Danh duyên, cú duyên, tự duyên: Đây là chia ngôn ngữ và nội dung của nó thành ba loại nguyên lý. Danh có nghĩa là danh từ (danh thuyên tự tính); cú, như núi cao, nước chảy, v.v… là giải bày nghĩa lý (cú thuyên sai biệt); tự là tự mẫu và tự vận như a, I, u, b, c, k,… người ta nhờ chữ mà phát thành tiếng, nhờ danh mà nói lên đối tượng và nhờ cú mà phát biểu nghĩa lý.
402. Nhân vô ngã duyên, pháp vô ngã duyên: tác ý duyên theo tánh chân thật.
403. Sắc duyên và vô sắc duyên: sắc duyên là tác ý duyên sở thủ tướng phần của tánh y tha. Vô sắc duyên là tác ý duyên năng thủ kiến phần của tánh y tha.
404. Chỉ cho tác ý thông đạt 4 đế.
405. Đắc, tập, đoạn, đối trị (得,習,斷,對治): thủ đắc điều thiện chưa sanh, tích tập điều thiện đã sanh, đoạn trừ điều ác đã sanh, đối trị điều ác chưa sanh.
406. Năm căn: tín căn, tiến căn, niệm căn, định căn và tuệ căn.
407. Năm chướng: tà tín, biếng nhác, tà niệm, dục phiền não và các hoặc của 3 cõi.
408. Bảy giác phần = bảy giác chi: niệm giác chi, trạch pháp giác chi, tinh tiến giác chi, hỷ giác chi, khinh an giác chi, định giác chi, xả giác chi.
409. Từ thắng giải hành địa, văn tư tu tuần tự tăng thượng, nên ở địa thứ nhất hiện chứng pháp giới, còn gọi là tịnh trì địa nghiệp (淨持地業).
410. Tư duy phân biệt: 1. Kiến đạo vị: “Đức Thế tôn dạy đại Bồ tát Từ thị: Thiện nam tử, nếu Bồ tát đã được chỉ quán bằng cách căn cứ bảy chân như, đúng như cái pháp đã nghe và đã nghĩ, do tâm trí của chánh định siêu việt mà bên trong tự chánh tư duy về tánh chân như đã khéo thẩm định khéo tư lượng và khéo thiết lập, thì vì chánh tư duy chân như nên đối với sự hiện hành của tế tướng tâm trí còn bỏ được, huống chi đối với sự hiện hành của thô tướng.
Tế tướng là ấn tượng chấp thọ, lãnh nạp, liễu biệt và nhiễm tịnh (thân, thọ, tâm, pháp), là ấn tượng pháp trong, pháp ngoài và trong ngoài, là ấn tượng cho rằng mình làm mọi sự lợi ích chúng sanh, là ấn tượng chánh trí, chân như, là ấn tượng khổ tập diệt đạo, là ấn tượng hữu vi, vô vi, là ấn tượng hữu thường, vô thường, là ấn tượng khổ có biến dị, khổ không biến dị, là ấn tượng hữu vi đa dạng, hữu vi đồng nhất, là ấn tượng tất cả được có bởi biết tất cả là tất cả (= biết tất cả pháp có tất cả tướng), là ấn tượng nhân vô ngã, pháp vô ngã, mọi ấn tượng như vậy tâm trí Bồ tát loại bỏ được cả.
Bồ tát ở nhiều trong sự tu hành như thế này nên lúc nào cũng khéo sửa trị tâm trí của mình trong mọi sự ràng buộc, ngăn che và xao động. Từ đó về sau, đối với bảy chân như có bảy cái trí thông suốt, tự chứng bên trong, được riêng biệt sanh ra, và gọi là Kiến đạo vị. Do được như vậy nên gọi là vị nhập vào chánh tánh ly sanh của Bồ tát, vị sanh vào nhà Như lai, vị chứng đắc Bồ tát địa đầu tiên, vị hưởng dụng mọi thành quả siêu việt của Bồ tát địa này.” 2.
Tu đạo vị: “Bồ tát như vậy, trước đây được chỉ quán bằng cách được đối tượng có phân biệt (do tác ý thắng giải) và đối tượng không phân biệt (do tác ý chân thật), nay được Kiến đạo vị là được thêm đối tượng biên tế các pháp (= tánh tận sở hữu và tánh như sở hữu). Rồi các giai đoạn liên tiếp về sau, trong tất cả Bồ tát địa còn lại, thì tiến tu Tu đạo vị, bằng cách tác ý tư duy cả ba đối tượng nói trên.” (Kinh Giải thâm mật, H.T Thích Trí Quang dịch)
411. Ba giới, tức tam tụ tịnh giới, là 3 nhóm giới của Bồ tát: 1. Nhiếp luật nghi giới (dứt các điều ác); 2. Nhiếp thiện pháp giới (hành các điều lành); 3. Nhiêu ích hữu tình giới (độ tất cả chúng sanh).
412. Pháp trú tướng bất vong (法住相不忘): Pháp trú tướng, hay pháp trú tánh (法住性), cũng gọi là pháp trú, pháp giới (法住, 法界), pháp tánh. Tạp a hàm, kinh Nhân duyên, số 296: “Thế nào là pháp duyên sanh? Là vô minh, hành ... dù Phật có xuất hiện hay chưa xuất hiện ở thế gian thì pháp này vẫn thường trụ, pháp trụ, pháp giới. Pháp này Như Lai đã tự giác tri, thành Đẳng chánh giác, vì người diễn nói, chỉ dạy, hiển bày rằng: Duyên vô minh có hành, cho đến, duyên sanh nên có già, bệnh, chết, ưu, bi, khổ, não.” (Thích Đức Thắng dịch)
413. Tâm trú vô tưởng: nơi chân như pháp tánh ly ngôn sanh khởi vô phân biệt, tâm trú vô tướng.
414. Chuyển y: chuyển bỏ 2 trọng chướng (phiền não chướng và sở tri chướng) mà chuyển được 2 đại quả (đại niết-bàn và đại bồ-đề).
415. Tám đạo phần chủng tu này có sai biệt với 8 chánh đạo thường biết.
416. Du-già (yoga) dịch nghĩa là tương ưng (thích ứng với nhau), chính yếu là tương ưng chỉ (xa-ma-tha) và quán (tỳ-bát-xá-na). Kinh Giải thâm mật: “Vào lúc bấy giờ đại Bồ tát Từ thị thưa Phật: bạch đức Thế tôn, trong Đại thừa, các vị Bồ tát y cứ vào chỗ nào và trú ở vào chỗ nào mà tu tập chỉ quán?
Đức Thế tôn dạy đại Bồ tát Từ thị: Thiện nam tử, hãy nhận thức rằng, trong Đại thừa, các vị Bồ tát tu tập chỉ quán thì lấy giáo pháp của Như lai thiết lập mà làm chỗ y cứ, lấy sự không bỏ mất tâm nguyện vô thượng bồ-đề mà làm chỗ trú ở.” Lấy giáo pháp của Như lai thiết lập mà làm chỗ y cứ, nghĩa là “đối với giáo pháp ấy, Bồ tát khéo lắng nghe, khéo tiếp nhận, văn khéo rành rẻ, ý khéo tìm tòi, thấy khéo thông suốt; rồi chính nơi giáo pháp phải khéo tư duy như vậy, Bồ tát một mình ở chỗ không phiền không ồn mà tác ý tư duy; sự tư duy này phải được nội tâm liên tục tác ý tư duy: hễ đứng vững rất nhiều trong cái chánh hạnh ấy, sanh ra sự khinh an nơi thân và sự khinh an nơi tâm, thì đó là chỉ, và Bồ tát như vậy là cầu về chỉ.
Bồ tát này do cái thân tâm khinh an trên đây làm nền tảng, đối với ấn tượng chánh định theo giáo pháp phải khéo tư duy nói trên, hãy quan sát, thắng giải, bỏ cái tâm tướng về chỉ: hễ đối với ấn tượng chánh định cần phải chứng biết ấy mà chính xác quyết trạch, cùng cực quyết trạch, tầm tư toàn bộ, tứ sát toàn bộ, rồi xác nhận, ưa thích, hiểu biết, nhìn thấy, xét thấy, thì đó là quán, và Bồ tát như vậy là khéo về quán.” (H.T Thích Trí Quang dịch) Cho thấy, chỉ và quán là tự tánh của chánh lý Du già.
417. Nhiếp luận nói, a-lại-da có 3 sự huân tập sai biệt: 1. Danh ngôn huân tập sai biệt; 2.
Ngã kiến huân tập sai biệt; 3. Hữu chi huân tập sai biệt. H.T Thích Trí Quang giải thích: Danh ngôn huân tập: danh ngôn là các pháp.
Các pháp mà gọi là danh ngôn, là vì các pháp là những khái niệm. Khái niệm là danh ngôn. Danh ngôn có 2 loại: chính khái nhiệm là biểu thị các pháp, nên gọi nó là danh ngôn hiển cảnh; rồi ngôn ngữ văn tự truyền đạt danh ngôn hiển cảnh thì gọi là danh ngôn biểu nghĩa.
Nói danh ngôn huân tập cũng như nói các pháp huân tập, huân tập thành ra chủng tử tương lai của các pháp, các pháp tương lai do chủng tử ấy mà hiện hành. Nên danh ngôn huân tập là duyên khởi thứ nhất, duyên khởi ra tự tánh khác nhau. Ngã kiến huân tập là mạt-na (ý ô nhiễm) ý thức a-lại-da làm tự ngã.
Ý thức tự ngã này huân tập thành ra chủng tử thấy có mình có người, tự thể (sanh mạng) khác nhau. Hữu chi huân tập, hữu chi là 12 nhân duyên. Do hữu chi huân tập, bằng các nghiệp phước, phi phước và bất động, mà có ra tự thể (và quả báo của tự thể) là 3 cõi 6 đường đáng ưa và đáng ghét.
Ngã kiến huân tập và hữu chi huân tập là tăng thượng duyên, tức duyên khởi ra tự thể khác nhau. Tóm lại, do 3 sự sai biệt trên đây mà thấy a-lại-da vừa là chất liệu, vừa là tổ hợp, đối với nhân sanh vũ trụ.
418. Theo Nhiếp luận, a-lại-da là thức, mà là thức có đủ 2 phần tướng kiến, cho thấy a-lại-da là căn bản của các pháp, là chủ thức của các thức, hơn là 1 thức bình thường. Nếu chỗ nào qui định a-lại-da là thức, thì ở đó tất cả 11 thức khác là tướng phần, còn ý thức [trong đó] và mọi thức nó dựa vào là kiến phần.
419. Pháp lưu, tức đẳng lưu chánh pháp: Chánh pháp được tuyên thuyết có cùng căn nguyên tự tính với pháp giới thanh tịnh. Nhiếp luận thích: “Giáo pháp, như kinh điển v.v., tuôn chảy ra từ nguồn pháp giới tối thanh tịnh, gọi là đẳng lưu của pháp giới tối thanh tịnh. Huân tập phát khởi do sự nghe trực tiếp này được gọi là sự huân tập (do nghe). Chính cái được huân tập này tồn tại trong thức a-lại-da làm nguyên nhân phát khởi tâm xuất thế (vô lậu).”
420. Danh thân, cú thân và văn thân là tổng thuyết (hợp thể) của ý tưởng, chương cú và âm tiết. Trong đó, danh thân chỉ các danh từ như rūpa (sắc), śabda (thanh), v.v.; cú thân, chỉ thành cú hay mệnh đề như anityā bata samskārāḥ (ôi, các hành là vô thường). Văn thân là âm tiết như nguyên âm: a ā i ī; phụ âm: k, c, ṭ, t, p. (trong tiếng Pali).
421. Danh và nghĩa là danh và nghĩa của các pháp. Thí dụ bút là danh, để viết là nghĩa. Danh và nghĩa đều có tự tánh và sai biệt (đặc tánh và chi tiết) của danh và nghĩa. Bút mực hay bút chì (tự tánh) và bút mới hay cũ (sai biệt), đó là tự tánh và sai biệt của nghĩa. Tên gọi cho tự tánh và sai biệt của nghĩa là tự tánh và sai biệt của danh. Tầm tư về danh và nghĩa (cũng như tự tánh và sai biệt của danh và nghĩa) thì thấy toàn là giả thiết, chỉ là ý thức. Chữ cái (alphabet) chưa tạo thành danh và nghĩa nên không phải đối tượng phân biệt.
422. Ở noãn vị, chứng tri danh và nghĩa đều không thực sự tồn tại. Danh và nghĩa cùng hỗ tương xác lập, sanh khởi, nhưng đều do tâm tạo tác, giả lập. Khách trần phiền não là phiền não như khách trọ, đến rồi đi.
423. Ở đảnh vị, chứng ngộ các pháp biểu hiện bởi năng thủ và sở thủ đều không thực có, đều là tánh y tha của tâm và tâm sở, như lấy tay đè lên mắt thì có thể thấy 2 mặt trăng giống nhau. Liễu tri cái nhân tố mà ngoại cảnh hiện khởi là tâm, gọi là thông đạt hiện tướng.
424. Ở nhẫn vị, đối với 6 trần cảnh thì rời xa phân biệt chấp trước, chứng ngộ cảnh sở thủ là vô sở duyên, tức thông đạt vô duyên của nghĩa. Nhiếp luận: “Nếu đã loại bỏ cái ý tưởng duy thức vốn thuộc chủng loại đa văn huân tập của ý thức, thì bấy giờ Bồ tát đã loại bỏ ấn tượng thật có, mọi ấn tượng tuồng như thật có không thể phát sanh, nên cái ý tưởng duy thức cũng không sanh được. Vì lý do ấy mà đứng ở chỗ mọi nghĩa đều không có danh riêng, sống thích ứng với sự hiện thấy pháp tánh. Bấy giờ là Bồ tát đã phát sanh cái trí bình đẳng, không phân biệt năng tri sở tri, do đó mà vị Bồ tát này được gọi là ngộ nhập viên thành.” (H.T Thích Trí Quang dịch)
425. Ở thế đệ nhất pháp, chứng ngộ 6 thức năng duyên 6 trần cảnh đều vô tự tánh, tức thông đạt vô duyên của năng duyên.
426. Sau khi chứng ngộ vô duyên của nhị thủ, nhập kiến đạo vị, vào địa thứ nhất, thông đạt viễn ly nhị thủ, biến hành pháp tánh của pháp giới, gọi là thông đạt pháp giới.
427. Nhân vô ngã và pháp vô ngã: Hàng Thanh văn khi kiến đạo thì chứng ngộ nhân vô ngã, tức ở nơi ngũ uẩn mà hiện chứng không có nhân ngã, chứng quả dự lưu. Bồ tát kiến đạo, không chỉ có chứng ngộ nhân vô ngã, mà còn chứng ngộ ngũ uẩn như huyễn hóa, hiện chứng pháp vô ngã, tức các pháp vô tự tánh.
428. Tâm hạ liệt và tâm cao đại: Hàng tứ quả Thanh văn và Duyên giác vì cầu lợi mình nên chưa hứng ngộ được pháp vô ngã. Hàng thập địa Bồ tát và các bậc thiện thệ vì cầu lợi mình và lợi người mà viên chứng pháp vô ngã.
429. Khi kiến đạo vào địa thứ nhất, hiện chứng pháp giới, trong một sát-na có thể gặp 100 đức Phật, được 1200 công đức.
430. Từ địa thứ hai có được 12 ngàn công đức, cho đến địa thứ mười, nơi mỗi địa công đức càng thêm lên, không gián đoạn.
431. Tự tại của hàng Thanh văn chứng ngộ nhân vô ngã, không còn phiền não chướng.
432. Tự tại của hàng Bồ tát không còn chướng ngại bởi phiền não chướng và sở tri chướng, tức chứng ngộ nhân vô ngã và pháp vô ngã.
433. Tự tại do chứng đắc pháp thân. Nhiếp luận: “Pháp thân do mấy thứ tự tại mà tự tại?
Đại lược do 5 thứ. Thứ nhất do sự tự tại về quốc độ, về bản thân, về tướng hảo, về âm thanh vô biên, về tướng vô kiến đảnh, ấy là do chuyển chỗ y cứ của sắc uẩn. Thứ hai do sự tự tại về cái vui rộng lớn, không tội lỗi và không số lượng, ấy là do chuyển chỗ y cứ của thọ uẩn.
Thứ ba do sự tự tại về hùng biện tất cả danh thân, cú thân và văn thân, ấy là do chuyển chỗ y cứ của tưởng uẩn. Thứ tư do sự tự tại hóa hiện, biến đổi, dẫn nhiếp đại chúng, dẫn nhiếp bạch pháp, ấy là do chuyển chỗ y cứ của hành uẩn. Thứ năm do sự tự tại về đại viên cảnh trí, bình đẳng tánh trí, diệu quan sát trí, thành sở tác trí, ấy là do chuyển chỗ y cứ của thức uẩn.” “Pháp thân thích ứng với mấy đức?
Thích ứng với 20 công đức tối thanh tịnh: 4 tâm vô lượng, giải thoát, thắng xứ, biến xứ, vô tránh, nguyện trí, 4 trí vô ngại, 6 thần thông, 30 tướng đại trượng phu, 80 tùy hình hảo, 4 tất cả tướng thanh tịnh, 10 lực, 4 vô úy, 3 bất hộ, 3 niệm trú, bạt nhổ tập khí, sự không quên mất, đại bi, 18 pháp bất cọng, nhất thế tướng diệu trí.” (H.T Thích Trí Quang dịch)
434. Lìa hai, là nói sự vô tướng của các pháp. Mê y tha, là nói sự tạp nhiễm của các pháp. Không thuyết, không hý luận: là nói sự thanh tịnh của các pháp.
435. Chính tự tánh thanh tịnh đã thoát ly tất cả chướng ngại dơ bẩn.
436. Tự tánh thanh tịnh: Hư không vốn trong sáng, đó là sự trong sáng vốn có, không phải mới làm ra. Vô cấu thanh tịnh: Vì mây che mà hư không có u ám, trừ sạch mây che thì trong sáng hoàn trong sáng. Tự tánh thanh tịnh: Nếu vàng vốn không phải là vàng (tức trong quặng không có vàng) thì lọc quặng cũng không thành vàng ròng. Vô cấu thanh tịnh: Vàng vốn là vàng nhưng cũng vốn có trong quặng, nếu không lọc quặng ấy thì vàng không thành vàng ròng được.
437. Tánh phân biệt là năng thủ, tánh y tha là sở thủ.
438. Phân biệt hư vọng là cái biết thác loạn của ý thức biến kế, bản thân thật không có, chỉ có cái mà ý thức biến kế chấp vào, và cái được chấp thì có thể thủ đắc.
439. Vàng là đối tượng bị nhận lầm, đó là tánh phân biệt. Gỗ là đối cảnh được thấy rõ và chính xác, đó là tánh chân thật.
440. Tuy pháp y tha đủ nghĩa vô tánh, nhưng vì 2 chướng chưa đoạn trừ, nên y tha vẫn làm cảnh sở duyên cho vọng chấp.
441. Hành tự tại là không có nhân tố điên đảo, tức không còn vọng chấp biến kế nơi y tha để mà thấy ngã, thấy pháp. Thánh nhân chỉ cho bậc kiến đạo trở lên.
442. Huyễn sự chỉ cho 5 uẩn trong 3 cõi, tức thân tâm và thế giới của thân tâm.
443. Xứ kia chỉ cho y tha khởi xứ.
444. Vô thể chỉ cho sự biểu hiện của các pháp thật không có vì hư vọng phân biệt. Hữu thể chỉ cho tánh y tha của các pháp (= các pháp hữu vi, do chủng tử nơi a-lại-da nhờ các trợ duyên mà hiện hành) ở đâu và lúc nào cũng có (dù là giả có), bởi lẽ y tha mà không có thì không có gì nữa: tánh y tha mà không có thì tánh chân thật cũng không có.
445. Chẳng phải vô thể, tức là hữu thể.
446. Đây là thí dụ về ngọc bạch châu trong suốt, nếu đặt viên ngọc ấy trong màu xanh thì thấy như ngọc đế thanh, đặt trong màu đỏ thì thấy như ngọc hổ phách v.v… Hiện ra đủ màu là tánh y tha, lầm màu ấy cho là màu thật là tánh phân biệt, biết ngọc trong suốt là tánh chân thật.
447. Sắc thức là sắc cảnh. Phi sắc thức (không phải sắc thức) hay nhãn thức thức: thức của nhãn thức, tức là nhãn thức.
Còn nhãn thức là nhãn căn. Nhiếp luận ghi: “Làm sao xác lập các thức (hay 11 thức, tức tất cả các pháp) như vậy thành duy thức? Đại khái có 3 cách, một là do duy thức, vì không cái gì thật cả; hai là do 2 phần, vì có tướng phần có kiến phần 2 thức khác nhau; ba là do nhiều thứ, vì có nhiều thứ hành tướng sanh khởi.
Tại sao có 3 cách như vậy, bởi vì tất cả các thức không thật, nên có thể xác lập duy thức; bởi vì có tướng phần và có kiến phần nên thành ra 2 mặt; bởi vì nhãn thức thì lấy sắc thức làm tướng phần, lấy thức của nhãn thức làm kiến phần, cho đến thân thức thì lấy xúc thức làm tướng phần, lấy thức của thân thức làm kiến phần, đến như ý thức thì lấy các thức làm tướng phần, lấy thức của ý thức làm kiến phần - trong tướng phần ấy sắc thức làm tối sơ, pháp thức làm tối hậu, vì ý thức là chủ thể phân biệt, sanh khởi tương tự tất cả các thức.” Kiến phần là đối tượng hóa nhận thức (thức năng mê).
Tướng phần là nhận thức hóa đối tượng (cảnh sở mê). Kệ tụng này chỉ nói về sắc thức, nhưng đã bao gồm thanh thức, hương thức, vị thức, xúc thức, ý thức (tướng phần), và thức của nhĩ thức, thức của tỷ thức, thức của thiệt thức, thức của thân thức, thức của ý thức (kiến phần).
448. Pháp mê tướng: sắc thái mê của các pháp. Như thị tướng: biểu hiện như vậy. Như thị thể: thực chất như vậy. Luận Pháp hoa: “Xá lợi phất, chỉ Như lai với Như lai mới thuyết được pháp, vì chỉ Như lai với Như lai mới biết được thật tướng cứu cánh của pháp ấy. Xá lợi phất, chỉ Như lai mới biết được pháp, Xá lợi phất, chỉ Như lai mới thuyết được pháp: pháp ấy là gì, pháp ấy vì gì, pháp ấy như gì, pháp ấy tướng gì, pháp ấy tánh gì. Là gì, vì gì, như gì, tướng gì, tánh gì, tất cả những gì về pháp như vậy, Như lai thấy như hiện có trước mắt chứ không phải không thấy như hiện có trước mắt.”
449. Bốn niệm xứ, bốn chánh đoạn, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy giác chi và tám thánh đạo.
450. Vô tướng là trong pháp tánh, quán các pháp không thể thủ đắc.
451. Pháp thân Phật thì vô tướng, còn hóa thân Phật thì đủ 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp và hiển lộ hào quang.
452. Chánh văn là vô mạn (無慢), được hiểu là không phóng dật. Tăng nhất a hàm, phẩm 10, kinh số 1: “Bấy giờ, Thế Tôn liền nói kệ này: Không mạn, dấu cam lồ/ Phóng dật, con đường chết/ Không mạn, thì không chết / Ai mạn, tức là chết (無憍甘露跡,放逸是死徑,無慢則不死,慢者即是死) Cho nên, này các Tỳ kheo, hãy niệm tu hành hạnh không phóng dật. Như vậy, này các Tỳ-kheo, các ngươi hãy học điều này.” Tham chiếu, kinh Pháp cú, kệ 21: “Không phóng dật, con đường dẫn đến bất tử. Phóng dật, con đường dẫn đến cõi chết. Những ai không phóng dật thì không chết. Những ai phóng dật, chúng như đã chết.”
453. Huyễn ảo là như không gian nổi lên hoa đốm, do con mắt bị bịnh màng mắt mà thấy có hoa đốm. Chiêm bao là cảnh khi mơ ngủ. Sóng nắng là những dợn sóng do hơi nắng bốc lên, làm cho con nai phát sanh ảo tưởng là nước. Ảnh tượng là hình ảnh trong gương. Bóng sáng là do ánh sáng mà tạo ra những bóng ảnh in trên vách, trên đất. Tiếng dội là tiếng dội lại y hệt tiếng kêu trong hang núi. Bóng trăng trong nước là khi nước trong và lặng thì thấy được bóng trăng. Biến hóa là nhà ảo thuật làm ra trò ảo thuật mà người thích.
454. Ánh sáng chỉ cho đối tượng được biết đến (sở thủ quang).
455. Hưởng chịu cái đáng ưa, cái đáng ghét.
456. Mê lầm vì các pháp không thật mà ảo trạng ngộ nhận là thật, chính là sự vọng chấp ngã pháp.
457. Tuy các pháp không thật nhưng vẫn có quả báo đáng ưa, đáng ghét của thiện nghiệp và ác nghiệp khác nhau.
458. Điều kiện cho các thức phát sanh.
459. Chỉ cho ngôn ngữ phát sanh.
460. Chỉ cho đối tượng các định biết thật.
461. Chỉ cho sự làm lợi ích cho chúng sanh.
462. Trí còn phân biệt năng thủ và sở thủ, chưa tùy thuận pháp tánh.
463. Tức từ tư lương vị (tu thuận giải thoát phần của Đại thừa), gia hạnh vị (tu thuận quyết trạch phần của Đại thừa, phương tiện gia hạnh, 4 thiện căn: noãn, đảnh, nhẫn và thế đệ nhất) cho đến thông đạt vị (nhập tâm của sơ địa, còn gọi lại kiến đạo vị). Đây là phần gia hành của trí vô phân biệt.
464. Tức từ trú tâm của sơ địa cho đến xuất tâm của địa thứ mười, còn gọi là tu đạo vị. Đây là phần căn bản của trí vô phân biệt (căn bản trí).
465. Xuất thế hậu đắc thế trí (出世後得世智): Trí của Phật, đạt được ở cứu cánh vị. Đây là phần hậu đắc của trí vô phân biệt (hậu đắc trí).
466. Danh xứ: Chỗ giả thiết, lĩnh vực của ý thức liễu biệt nghĩa và quang, đã nói ở sự cầu sở duyên (“Đối với ba sở duyên mà an trú tâm mình chỉ có danh”). Đó chính là cái ý thức được đa văn huân tập (sự huân tập không thuộc về a-lại-da mà vẫn như a-lại-da huân tập thành chủng tử), tác ý đúng lý, tạo ra nơi kiến phần có cái ấn tượng về pháp và nghĩa của Đại thừa. Do pháp và nghĩa của Đại thừa đẳng lưu sanh ra ý thức ấy trải qua các địa vị: giải hành, kiến đạo, tu đạo và cứu cánh.
467. Tâm quang, tức tâm thức. Nói đủ là tâm ý thức, trong đó tâm là a-lại-da, ý là mạt-na và thức là 6 thức. Sáu thức nhận biết đối cảnh, nhưng ý thức biết đó là nhận thức của mình, tức ý thức tự ngã mà từ đó năng sở hóa tâm vật hay tự tha hóa mình người, đó chính là mạt-na. Ý thức tự ngã còn hay mất mà thành ra nhiễm ô hay thanh tịnh. Căn bản của toàn bộ các thức là a-lại-da, nó làm nhân, làm quả cho các pháp và là tự ngã mà chúng sanh tự ý thức, chấp lấy (năng tàng, sở tàng và ngã ái chấp tàng). Năng thủ và sở thủ chỉ toàn là biểu hiện của tâm thức.
468. Sáu tâm sở phiền não căn bản: tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến.
469. Mười một tâm sở thiện: tín, tàm, quý, vô tham, vô sân, vô si, cần, khinh an, bất phóng dật, hành xả, bất hại.
470. Các pháp chỉ là biểu hiện qua cái Tâm chân thật, cái Tâm duy nhất, cái Tâm đồng nhất, nên không có dị biệt.
471. Sắc pháp: 4 đại chủng và các sở tạo sắc (5 căn, 5 trần và vô biểu sắc); 2. Tâm pháp: 8 thức tâm vương; 3.
Tâm sở pháp: 51 tâm sở: 5 tâm sở Biến hành (tác ý, xúc, thọ, tưởng và tư), 5 tâm sở Biệt cảnh (dục, thắng giải, niệm, định và tuệ), 11 tâm sở thiện (tín, tàm, quý, vô tham, vô sân, vô si, cần, khinh an, bất phóng dật, hành xả và bất hại), 6 tâm sở căn bản phiền não (tham, sân, si, mạn, nghi và ác kiến), 20 tâm sở tùy phiền não (phẫn, hận, phú, não, tật, xan, cuống, siểm, hại, kiêu, vô tàm, vô qúi, trạo cử, hôn trầm, bất tín, giải đãi, phóng dật, thất niệm, tán loạn và bất chánh tri), 4 tâm sở Bất định (hối, miên, tầm và tứ); 4.
Bất tương ưng hành pháp có 24: đắc, mạng căn, chúng đồng phận, dị sanh tánh, vô tưởng định, diệt tận định, vô tướng quả, danh thân, cú thân, văn thân, sanh, trụ, lão, vô thường, lưu chuyển, định dị, tương ưng, thế tốc, thứ đệ, phương, thời, số, hòa hiệp tánh và bất hòa hiệp tánh; 5. Vô vi pháp có 6: hư không vô vi, trạch diệt vô vi, phi trạch diệt vô vi, bất động diệt vô vi, thọ tưởng diệt vô vi và chân như vô vi.
472. Trong 5 sở tướng, sắc pháp, tâm pháp, tâm số pháp và bất tương ưng pháp là sự tướng của các pháp, còn gọi là pháp hữu vi (: những gì có tạo tác, có sanh diệt, không thường còn); vô vi pháp là lý tánh của các pháp, còn gọi là vô vi pháp (: những gì không tạo tác, không sanh diệt, không tăng giảm, vắng lặng thường còn).
473. Ba năng tướng sở tri này cũng chính là 3 tánh: tánh phân biệt, tánh y tha và tánh chân thật.
474. Ý ngôn là một tên khác của ý thức. Ý thức hay phân biệt danh ngôn nên gọi là ý ngôn.
475. Ý ngôn (ý thức) là chủ thể phân biệt, lấy sự huân tập danh ngôn của bản thân nó làm chủng tử, lại lấy sự danh ngôn huân tập của 11 thức khác làm chủng tử, cho nên ý thức có vô số cái biết và vô số sự phân biệt sanh ra.
476. Nghĩa là nghĩa của các pháp, bao gồm tự tánh (đặc tính) của nghĩa và sai biệt (chi tiết) của nghĩa. Nghĩa quang là cái ấn tượng tương tự về nghĩa, tuồng như thật có của ý thức.
477. Danh là danh từ để gọi tự tánh của nghĩa và sai biệt của nghĩa. Danh quang là cái ấn tượng tương tự về danh, tuồng như thật có của ý thức.
478. Tướng nhân phân biệt tướng (相因分別相): Là dựa vào nhân tố mà phát sanh phân biệt. Nhân tố ấy là danh và nghĩa.
479. Chánh văn là phi chân phân biệt (非真分別): hư vọng phân biệt, tức sự phân biệt không chính xác.
480. Cú quang là khí thế giới. Nghĩa quang là trần cảnh. Thân quang là căn thân. Ở đây, quang (光) có nghĩa là hiển lộ.
481. Chỉ cho thức mạt-na, 5 thức trước và thứ thứ sáu.
482. Chánh văn là bất chân phân biệt (不真分別). Tướng y tha là do chủng tử a-lại-da phát sanh, là biểu hiện của phân biệt hư vọng, là căn cứ của sự không thật.
Nhiếp luận: “Y tha khởi tướng là gì? Là các thức do a-lại-da làm chủng tử và thuộc về phân biệt hư vọng. Các thức ấy là gì?
Là thức thân, thức chủ thể của thân, thức chủ thể của sự tiếp nhận, thức được tiếp nhận, thức tiếp nhận, thức thì gian, thức số mục, thức thế giới cư trú, thức nói năng, thức mình người, thức đường lành đường dữ. Tựu trung, thức thân cho đến thức nói năng là do chủng tử của danh ngôn huân tập, thức mình người là do chủng tử của ngã kiến huân tập, và thức đường lành đường dữ là do chủng tử của hữu chi huân tập. Các thức như vậy là cái y tha khởi tướng thống thuộc 3 cõi 5 đường và 3 tạp nhiễm, là được biểu hiện bởi phân biệt hư vọng.
Như vậy, các thức này thống thuộc phân biệt hư vọng, đặc tính là duy thức, làm căn cứ cho sự biểu hiện không có và không thực. Như thế đó gọi là y tha khởi tướng.” (H.T Thích Trí Quang dịch)
483. Chánh văn là tự tướng, nhiễm tịnh tướng và vô phân biệt tướng.
484. Hý luận là ngôn ngữ của tư tưởng, là tư tưởng được diễn dịch, đối chiếu bằng tứ cú: có - không - cũng có cũng không - không phải có không phải không (hoặc: một - khác - cũng một cũng khác - không phải một không phải khác). Từ căn bản tứ cú này mà cứ diễn dịch đối chiếu thêm mãi, nên có từ ngữ “tứ cú bách phi”. Tư tưởng như vậy và ngôn ngữ diễn đạt tư tưởng như vậy gọi là hý luận. Trí tuệ thuộc lãnh vực này gọi là trí tứ cú, gọi là phân biệt, là tà kiến, không thể gọi là trí tuệ. Không hý luận thì đắc như thật trí, cái trí không có tác ý, tầm tư và thọ tưởng.
485. Hiển dương thánh giáo luận, quyển 20, phẩm Nhiếp thắng quyết trạch: “Như đức Bạc già phạm nói, có năm thứ pháp có thể nhiếp lấy tất cả hành giả Du già, các Du già địa, đó là trì, trú, minh, kính và chuyển y; nên biết, nghe chánh pháp là trì sở duyên, là trú chỉ quán, là minh ảnh tượng, là kính sự thành tựu, là chuyển y.” Đại thừa A tỳ đạt ma tạp tập luận, quyển 11, phẩm Quyết trạch phần trung pháp: “Địa này (Du già địa) lược có 5 thứ: trì, nhậm, kính, minh, y.
Trì, là tích tập tư lương bồ-đề rồi, ở nơi noãn vị v.v… dựa vào các thánh đế mà có được đa văn; từ những gì đa văn an lập đối cảnh sở duyên cho chỉ quán, gọi là trì. Lại tích tập tư lương bồ-đề rồi, vì cầu hiện quán chắc thật mà lắng nghe và tiếp nhận giáo pháp nơi khế kinh v.v…, gọi là đa văn (huân tập). Nhậm, là duyên đối cảnh chỉ quán mà tác ý đúng lý; do tác ý như vậy và dựa vào sự đa văn mà tư duy không điên đảo về nghĩa tướng (của giáo pháp), nắm giữ nội tâm một cách tự nhiên.
Kính, duyên đối cảnh chỉ quán mà tu chánh định hữu tướng; chánh định này duyên với sự đa văn; vì đối cảnh và ấn tượng trong định cùng có mặt nên gọi là hữu tướng. Do chánh định này còn mang ấn tượng có phân biệt của quán, và chánh định này có năng lực quán sát thấu hiểu các pháp cần thấu hiểu, nên ví như tấm gương. Minh, là trí không có thủ đắc năng thủ và sở thủ; do trí này mà nhiếp lấy hiện quán chuyển y ở kiến đạo.
Vì sao các Bồ tát dựa vào phương tiện tu học của Du già địa để chứng sự không thể thủ đắc? Đó là các Bồ tát đã khéo dồn chứa hai thứ tư lương phước đức và trí tuệ, trải qua vô số đại kiếp thứ nhất, đa văn và tùy thuận sự thấu triệt chân như, tác ý đúng lý về giáo pháp nơi khế kinh v.v… mà tu tập chánh định dựa vào sự khinh an nơi tâm, tư duy đối với ấn tượng được xác lập trong định, quán ấn tượng ấy không biệt lập với sự khinh an nơi tâm.
Dựa vào ấn tượng này để buông xả phân biệt ngoại cảnh, chỉ quán chuyên chú vào ấn tượng có phân biệt của chánh định. Bấy giờ Bồ tát liễu tri các pháp chỉ là tự tâm, trú ở nơi nội tâm, biết tất cả cảnh giới sở thủ đều không sở hữu. Vì sở thủ không có nên tất cả năng thủ cũng chẳng phải chân thật, cho nên liễu tri năng thủ chẳng có.
Lại nữa, nơi nội tâm xả ly hai thứ sở đắc, nơi tự tánh chứng vô sở đắc. Dựa vào đạo lý này mà đức Phật khéo tuyên thuyết, Bồ tát ở định vị quán ấn tượng chánh định là tâm thức, phân biệt về nghĩa đã dứt trừ, thấu triệt chỉ là sự tự phân biệt, biết đã an trú nội tâm, biết sở thủ chẳng có, biết năng thủ cũng không, sau đó chạm đến sự vô sở đắc. Y, là chuyển y, nghĩa là rời xa tất cả (tạp nhiễm) thô trọng mà được thanh tịnh chuyển y.”
486. Năm thứ thù thắng: 1. Tự tánh thanh tịnh; 2. Quốc độ thanh tịnh; 3. Chứng đắc pháp thân; 4. Viên mãn thọ dụng tất cả pháp Đại thừa (thọ dụng thân); 5. Lợi ích chúng sanh không có gián đoạn (hóa thân).
487. Thử thị ngũ chủng học địa giải tướng, tự bỉ giải thoát sở tướng pháp cập tam chủng năng tướng pháp cố (此是五種學地解相, 似(以)彼解脫所相法及三種能相法故). Giải tướng là hành tướng của tâm vương và tâm sở. Địa, chỉ cho Du già địa, tức sự tu tập chỉ quán.
488. Hiển dương thánh giáo luận, quyển 17: “Lại người tu quán này, do thức a-lại-da là tất cả hý luận nhiếp thuộc cảnh giới các hành. Thâu tóm các hành nơi thức a-lại-da, gom chung thành một khối, một đống, một nhóm. Làm thành một khối rồi, đem trí duyên với cảnh chân như; tu tập, nhiều tu tập (như vậy) nên sở y chỉ chuyển. Chuyển y không gián đoạn, mà biết đã đoạn thức a-lại-da. Do sự đoạn ấy mà biết đã đoạn được tất cả tạp nhiễm.”
489. Ý là thức mạt-na, thọ là thức của 5 căn, phân biệt là thức thứ 6. Sau khi chuyển y, thức mạt-na chuyển đắc trí vô phân biệt tự tại; thức của 5 căn chuyển đắc quốc độ thanh tịnh tự tại; thức thứ 6 chuyển đắc trí và nghiệp tự tại..
490. Địa thứ bảy, viễn hành địa, là đã đến giới hạn của cuối cùng của hữu công dụng hành. Từ địa thứ tám đến địa thứ mười là giai đoạn vô công dụng hành, trải qua vô số kiếp thứ ba tu hành viên mãn. Nhiếp luận: “Tại sao địa thứ tám gọi là bất động, vì ở đây hết thảy hữu tướng, hữu công dụng hành, đều không thể dao động.” (H.T Thích Trí Quang dịch)
491. Tức 4 vô ngại biện, là pháp vô ngại, nghĩa vô ngại, từ vô ngại và nhạo thuyết vô ngại.
492. Nghiệp tự tại là 3 nghiệp tự do, được cái trí tổng duyên các pháp, hàm tàng hết thảy đà-la-ni môn và tam-muội môn nên dẫn ra thần thông vô ngại trong mọi thế giới.
493. Chân thật duy thức = duy thức thật tánh: Tánh chân thật là thắng nghĩa vô tánh của tất cả các pháp. Thắng nghĩa ấy có 2: một là, y tha không phải thắng nghĩa nên cũng gọi là thắng nghĩa vô tánh; hai là, chân thật do pháp không hiển lộ nên gọi là thắng nghĩa vô tánh.
Nói cách khác, thắng nghĩa không phải như tánh y tha, vì y tha không phải thắng nghĩa; thắng nghĩa càng không phải tánh phân biệt, vì phân biệt là ngã pháp; ngã không và pháp không thì mới hiển lộ thắng nghĩa. Mặt khác, duy thức có 2 thứ tương đối: một là, tương đối hư vọng và chân thật, vì y tha là đối tượng của phân biệt, là sở chấp của phân biệt mà thành hư vọng, và vì tuyệt đối không như cái có của đối tượng phân biệt mà thành chân thật; hai là, tương đối thế tục và thắng nghĩa, tánh y tha là thế tục, tánh chân thật là thắng nghĩa, vì muốn nhấn mạnh tánh thắng nghĩa đó mà nói tánh duy thức chân thật.
494. Hiển dương thánh giáo luận, quyển 20: “Có 3 nghĩa hữu sở đắc: 1. Hữu sở đắc về sự; 2. Hữu sở đắc về hữu sở đắc; 3. Hữu sở đắc về vô sở đắc … Lại có 3 nghĩa hữu sở đắc: 1. Hữu sở đắc về tự thể; 2. Hữu sở đắc về sự không viễn ly; 3. Hữu sở đắc về sự không phân tích chia chẻ.” Hữu sở đắc như vậy toàn là biểu hiện của tánh phân biệt.
495. Sức mạnh dồn chứa hai thứ tư lương phước đức và trí tuệ quyết định cho sự nhận thức khác nhau về chánh pháp của nhiều hạng người. Theo Kinh Giải thâm mật, có 4 hạng người: 1. Đã dồn chứa phước trí, đã gieo trồng thiện căn thượng phẩm; 2. Chưa dồn chứa phước trí, đã gieo trồng thiện căn thượng phẩm; 3. Chưa dồn chứa phước trí, chưa gieo trồng thiện căn thượng phẩm; 4. Chưa dồn chứa phước trí, chưa gieo trồng thiện căn.
496. Ngôn thuyết, là sự nói năng, là ngôn ngữ xuất từ thấy, nghe, hay, biết.
497. Chỉ là ý thức (duy thức): sự suy tìm danh và nghĩa chỉ là ý thức giả thiết không thật, không thể thủ đắc.
498. Bốn ấm là thọ, tưởng, hành và thức ấm. Sắc là tứ đại và các pháp do tứ đại sanh, tức tất cả vật lý của cơ thể và ngoại cảnh. Thọ là những cảm giác của cơ thể và tâm trí. Tưởng là những liên tường hay ấn tượng. Hành là tất cả tâm sở khác ngoài hai tâm sở thọ và tưởng. Thức là tất cả tâm vương. Đây là danh sắc trong 12 nhân duyên.
499. Ngã kiến huân tập là mạt-na (ý nhiễm ô) ý thức a-lại-da làm tự ngã. Ý thức tự ngã này huân tập thành ra chủng tử thấy có mình, có người là những tự thể (sanh mạng) khác nhau, rồi kế đạt chấp có thật ngã. Thuật ngữ gọi là phân biệt ngã kiến.
500. Ngã kiến huân tập làm nhân cho hữu chi huân tập. Hữu chi là 12 nhân duyên. Do hữu chi huân tập, bằng các nghiệp phước, phi phước và bất động, mà có ra tự thể và quả báo của tự thể là 3 cõi 6 đường đáng ưa và đáng ghét.
501. Vô tánh: tức 3 vô tánh hay 3 vô tự tánh, đó là tướng vô tánh, sanh vô tánh và thắng nghĩa vô tánh. Căn cứ 3 vô tánh mà nói các pháp toàn không, không sanh diệt, bản lai niết-bàn.
502. Chủng xứ, tức 5 uẩn, 12 xứ và 18 giới.
503. Tự tánh của tánh y tha: là tánh y tha không cố định là nhiễm hay tịnh. Do mặt nhiễm mà y tha thành phân biệt. Do mặt tịnh mà y tha thành chân thật.
504. Chư kiến (諸見): chỉ cho 62 vọng kiến. Cũng được hiểu là nhất thiết kiến thú (一切見趣), đây chỉ 5 kiến chấp: thân kiến, biên kiến, kiến thủ kiến, giới thủ kiến và tà kiến.
505. Nhất thừa: cỗ xe duy nhất, đó là Phật thừa, là tri kiến Phật.
506. Chánh văn là pháp đồng: Pháp là pháp tánh, tức chân như. Tất cả ba thừa đều không rời chân như, nên nói nhất thừa.
507. Tất cả pháp: chỉ có pháp, không có nhân (người). Nếu nhân (người) thật sự không có thì làm sao phân biệt, đây là Thanh văn, đây là Duyên giác, đây là Bồ tát. Nhưng sự phân biệt như vậy thì không hợp đạo lý, vì đồng thể tánh vô ngã, nên Phật nói nhất thừa.
508. Tam thừa bất định tánh: cũng gọi là bất định thừa tánh hay bất định chủng tánh. Chúng sanh về loại này gồm có chủng tử đoạn trừ phiền não của tam thừa, trước chứng được quả thấp, rồi sau tu vào Đại thừa. Ngoài ra, lại có chúng sanh gồm đủ chủng tử về Bồ tát và Duyên giác, cũng có chúng sanh gồm đủ chủng tử của Bồ tát và Thanh văn, lại cũng có chúng sanh gồm đủ chủng tử của Duyên giác và Thanh văn; ba loại chúng sanh này, hai loại trước thuộc về bất định tánh, loại sau thuộc về nhị thừa, không chịu vào bậc Đại thừa.
509. Đây gọi là tác ý bình đẳng đối với chúng sanh. Có cùng tác ý với mình (đồng tự ý): Hàng Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát (học theo Phật) cũng đối với tất cả chúng sanh khởi tác ý như vầy: Người kia chính là tôi, tôi chính là người kia. Với tác ý ấy, người kia đắc chánh giác, tức là tôi sẽ đắc chánh giác, và tôi đắc chánh giác, tức là người kia cũng sẽ đắc chánh giác. Như tôi cần phải giải thoát tự thân, cũng nên như vậy mà giải thoát cho chúng sanh. Vì tác ý như vậy mà Phật nói nhất thừa.
510. Đây là tác ý bình đẳng đối với pháp tánh chân như. Trong kinh Pháp hoa, Phật thọ ký cho chư vị Thanh văn thành Phật. Chư vị Thanh văn khi ấy có được tác ý bình đẳng đối với pháp tánh chân như, chứ chưa chứng đắc pháp thân của Phật. Chư vị tác ý rằng, pháp tánh chân như của Như lai chính là pháp tánh chân như của tôi, vì tác ý như vậy nên Phật nói nhất thừa.
511. Theo Câu xá luận, các thánh giả từ dự lưu hướng trở lên thuộc về chánh định tụ, kẻ tạo nghiệp ngũ vô gián thuộc về tà định tụ, còn lại những người không thuộc về hai tụ trên là bất định tụ. Bất định tụ chỉ cho 7 hiền vị: 1. Ngũ đình tâm quán; 2. Biệt tướng niệm trú; 3. Tổng tướng niệm trú; 4. Noãn pháp; 5. Đảnh pháp; 6. Nhẫn pháp; 7. Thế đệ nhất pháp.
512. Theo Thích Ma ha diễn luận, trước khi đạt địa vị 10 tín thì thuộc tà định tụ, do không tin vào quả báo của nghiệp. Ba hiền (10 trú, 10 hạnh, 10 hồi hướng) và 10 thánh (10 địa) là chánh định tụ, do đã vào địa vị Bất thoái. Mười tín là bất định tụ, do không quyết định tiến hay thoái.
513. Kiến đế, chỉ sự thấy và chứng bốn thánh đế.
514. Chỉ cho quả A-na-hàm.
515. Chỉ cho quả tu đà hoàn.
516. Nhuyến phẩm (軟品): điều phục thân và tâm trở nên thuần thục, trong sạch, nhu nhuyến (êm dịu, mềm mại), như một miếng da thô cứng nhưng trở thành nhu nhuyến vì có thoa dầu và ngâm nước.
Dấu “…” là lối viết tắt có từ chính bản gốc Pāli, gọi là peyyāla. Kinh tạng nguyên thuỷ vốn được tụng thuộc lòng, nên những đoạn lặp lại y nguyên ở bài trước thường được rút gọn lại bằng một dấu lược thay vì chép lại toàn văn. Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu giữ đúng lối ấy. Vì vậy có bài trông ngắn, nhưng đó là hình thức chuẩn mực của kinh điển chứ không phải app thiếu nội dung hay bản dịch bị cắt. Phần bị lược có thể đọc đầy đủ ở các bài liền trước trong cùng phẩm.
Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch do AI (Inti Sage) thực hiện: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.