Inti DharmaInti Dharma
Kinh điển
Đại Thừa — Tạng Bắc Truyền · Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh (Việt dịch)

Chánh Pháp Hoa Kinh quyển 3

Tên chữ Hán:正法華經

📖11,097 từ · ~44 phút đọc
2

Lưu tiến độ đọc kinh

Tạo tài khoản miễn phí để lưu bài kinh, đánh dấu tiến độ và tiếp tục lộ trình học mỗi ngày.

Tạo tài khoản
Bản dịch đầy đủ (Tiếng Việt)

Phẩm 4: TIN ƯA

Lúc bấy giờ Tôn-giả Tu-bồ-đề, Ca-chiên-diên, Đại Ca-diếp, Đại Mục-kiền-liên… được nghe pháp lớn chưa từng có, vốn chưa từng nghe và thấy Đức Thế Tôn thọ ký cho Tôn-giả Xá-lợi-phất sẽ thành đạo Vô thượng chánh chân, vừa mừng vừa sợ, phấn chấn, đều từ chỗ ngồi đứng dậy, đến trước chỗ Đức Thế Tôn, sửa y, để trần vai phải, quỳ gối, chắp tay chiêm ngưỡng Đức Thế Tôn mà trong lòng hân hoan, sáng suốt, thân tâm cảm thấy khoan khoái, nhẹ nhàng, tâm trí chuyên nhất bạch Đức Thế Tôn:

Kính bạch Đấng Đại Thánh! Chúng con đứng đầu chư Tăng, tuổi già suy yếu. Kính mong Thế Tôn cho chúng con được Niết-bàn. Tâm chí của chúng con vẫn mong cầu đạo Vô thượng chánh chân, nhưng sức tinh tấn của chúng con đã suy giảm, khôn thể kham nhận việc gì nữa. Như Lai trước đây giảng pháp, chúng con theo thứ tự ngồi an định trong chúng lắng nghe, không dám mỏi mệt hay nhàm chán. Lúc ấy Như Lai vì chúng con thuyết pháp. Chúng con đã được ở nơi Không, Vô tướng, Vô nguyện, cho đến các pháp của Phật, không tạo tác đối với tất cả pháp, ưa thích các việc làm của chư Bồ-tát, Như Lai đã nhiều lần khuyến khích giáo hóa chúng con nhưng chúng con đối với ba cõi chỉ muốn vượt qua, thường tự suy nghĩ cho rằng mình đã đạt được Niết-bàn. Nay tâm chúng con đã mỏi mệt. Lúc vừa nghe Thế Tôn chỉ dạy giáo nghĩa kỳ diệu chúng con đều chẳng có một ý niệm ham thích đối với Tuệ giác vô thượng. Thế mà nay Thế Tôn lại thọ ký cho hàng Thanh văn sẽ thành Chánh giác nên tâm chúng con rất bàng hoàng, kinh ngạc chưa từng có. Chúng con được lợi lành lớn, đã phải nỗ lực tu tập nên mới được nghe phẩm kinh như thế này. Chúng con theo chư Phật quá khứ thường được nghe pháp ấy nên khi vừa được nghe, chúng con như người được vô lượng ngọc báu, thỏa mãn chí nguyện mong mỏi. Chúng con hiện nay ở tại thế gian mà tâm vô sở úy, tiếng trống, nhạc vi diệu tự nhiên trổi lên, ngọn đèn vĩ đại chiếu rọi khắp nơi, rừng cây Chiên-đàn tỏa hương ngào ngạt.

Bạch Thế Tôn! Chúng con há có thể kham nhận được pháp lớn mà Thế Tôn đã nói hay sao? Đó là điều chúng con xin thưa thỉnh.

Lúc ấy các vị Thanh văn cùng nhau thưa với Đức Phật:

Thuở xưa có người con bỏ cha trốn đi lưu lạc đến địa phương khác sáu mươi năm, rong ruổi bốn phương tìm cầu cơm áo, luôn bị nghèo cùng khốn khổ, chẳng có chút tài sản nào. Người cha có việc đến địa phương ấy. Ông có vô số vàng bạc châu báu, thủy tinh, lưu ly, xa cừ, mã não, san hô, hổ phách chứa đầy trong kho, kẻ hầu hạ, xe cộ, voi ngựa nhiều vô số kể, quyến thuộc đông đảo, bảy báu đầy ắp, thu chi tiền bạc, trồng trọt cày bừa, khách thương buôn bán cũng rất đông đảo.

Người con nghèo đói phải đi khắp nơi làng mạc, thôn xóm, phố phường trong nước để xin ăn. Lúc ấy đang là mùa thu, ông trưởng giả giàu có đi vào thành xem xét các kho báu. Người cha, cùng con biệt ly đã lâu bỗng nhiên nhớ đến con, không biết con mình ở đâu. Ông tự nghĩ: “Ta có nhiều của cải đầy khắp gần xa mà lại chỉ có một mình. Nếu mai này ta chết đi thì của cải ấy sẽ tiêu tan. Ta chỉ mong được gặp lại con ta, tha hồ cho nó sự ăn mặc và giao tài sản cho nó, ta sẽ an vui không còn lo nghĩ.”

Khi ấy người con nghèo khổ lần hồi đến nhà ông trưởng giả, đứng trước của nhà nhìn vào, từ xa trông thấy người cha ngồi trên ngai sư tử được làm bằng vàng bạc và các vật quý báu, có các Bà-la-môn và mọi người kính cẩn vây quanh, có rèm báu kết ngọc và người cha ngồi trong đó để sai bảo, cắt đặt công việc cho mọi người trong các bộ phận. Dưới đất được rải đầy các thứ hoa quý, trăm ngàn muôn ức vàng dùng làm đồ dùng ăn uống. Người con nghèo thấy ông trưởng giả tư thế oai nghiêm như vậy nên rất sợ hãi, không biết vị ấy là ai, cho rằng người này là vua hoặc ngang hàng với vua, do dự không dám tiến bước, nghĩ vậy nên bỏ chạy thật mau.

Người cha trông thấy con lòng rất vui mừng, sai người hầu cận chạy theo gọi người con ấy quay về. Người con kinh hãi lăn xuống đất, nói với người theo bắt:

Tôi không có xúc phạm gì đến các người, tại sao lại bắt tôi?

Người hầu dẫn người con đem về cho trưởng giả. Trưởng giả bảo:

Chớ nên sợ hãi như thế. Ta vì con mà gầy dựng sự nghiệp với những kho tàng đầy ắp. Cha con biệt ly đã lâu không gặp, ta nay tuổi già suy yếu, cha con tình sâu nghĩa nặng mới đem con vào nhà này.

Người cha không nói điều này với ai. Vì sao? Vì người cha biết ý chí con mình nghèo hèn hạ tiện, không biết phước lực của cha. Một thời gian lâu sau, người con tâm ý thông hiểu, sắc mặt an hòa, biết được tên mình và quen dần với các vật quý giá, vị trưởng giả liền nói:

Đây chính là con của ta.

Rồi ông dùng phương tiện bảo người con:

Nay con muốn làm gì tùy ý.

Người con nghèo khổ rất kinh ngạc như được sự chưa từng có, liền đứng dạy đi đến xóm nghèo tìm kiếm cơm áo. Người cha hiểu con nên dùng phương tiện bảo anh ta:

Con cứ tự nhiên đến với họ.

Sau khi người con đến, vị trưởng giả lại sai người đến bảo với anh ta:

Ngươi hãy đến ngôi nhà kia, ở đấy đang cần người đánh xe.

Vị trưởng giả cho anh ta voi, ngựa, sai tập làm quen dần với những việc tầm thường. Nếu có ai hỏi anh ta cũng đáp là làm người đánh xe. Người cha bảo con:

Ngươi phải điều khiển xe, ngựa và quản lý các vật báu trong nhà, tùy ý thích của ngươi, ta sẽ ban phát cho. Người con muốn gì, người cha cũng chu cấp cho đầy đủ như lời đã nói. Khi ấy người con tập điều khiển ngựa, xe và quản lý rất kỹ lưỡng các châu báu và còn dạy dỗ cho những kẻ lớn nhỏ trong nhà. Người cha ở bên cửa sổ từ xa trông thấy con mình làm việc giỏi dang, ông liền cởi chiếc áo cũ đã mặc, tắm gội sạch sẽ, tay phải kỳ cọ, mặc y phục đẹp đẽ, đeo chuỗi ngọc quý, toàn thân sạch sẽ, sáng sủa. Ông bảo với đứa con:

Từ trước đến nay con đã xây dựng được cơ nghiệp gì không? Vì việc gì mà bỏ ta đi nơi khác đến nỗi bị khổ sở đói lạnh? Ta đã già yếu rồi, nay thật tình khuyên con rằng đã đến lúc con nên cưới vợ, vui chơi, ăn uống để nối dõi phước nhà. Sản nghiệp ta đã tạo nhiều không kể xiết, đầy đủ đồ quý báu, con có biết không? Ta mong ngóng con đã nhiều năm qua, mà con lại đi thân cận với bạn ác nay mới quay về. Con phải trừ bỏ những thói quen tật xấu ấy. Ta có viên ngọc dạ quang minh vô cùng quý giá sẽ đem cho con, kẻ hầu hạ, tôi tớ nam nữ lớn nhỏ tùy ý con muốn, tất cả đều giao cho con. Ta luôn thương nhớ con cũng như quốc vương may mắn gặp thái tử của họ.

Các ví Thanh văn cùng thưa Phật:

Bạch Thế Tôn! Khi ấy người con nghèo khổ đã lìa xa gia đình hơn sáu mươi năm, trôi giạt khắp nơi, đến nhà trưởng giả mới gặp người thân, suy nghĩ trước và sau khi gặp cha, tâm đều nhớ hết những việc đã làm.

Khi ấy vị trưởng giả nằm trên giường bệnh, biết mình sắp chết mới bảo người con:

Ta nay đã sức cùng lực kiệt. Con nên kế thừa sản nghiệp đồ sộ của ta. Tất cả tài sản kho tàng quý báu trong nhà, nếu con nhận lãnh, đem giúp đỡ những người nghèo thiếu, sử dụng tùy ý.

Người con nghe cha dạy xong vui mừng khôn xiết, nguyện sẽ thực hành không trái lời hứa. Người cha biết chí con nên thân hành dạy bảo, trước nghèo sau giàu càng thêm vui mừng, tôn kính than thuộc, lễ bái các bậc Trưởng lão. Người cha ở trước vua, đại thần và mọi người tuyên bố:

Xin các ngài biết cho, người này là con trai của tôi, do tôi sinh ra, tên đó họ đó. Con tôi đã bỏ tôi lưu lạc khắp nơi sáu mươi năm nay mới gặp nhau. Nó là con của tôi, tôi chính là cha nó. Bao nhiêu cửa cải, tài sản của tôi đều là của con tôi.

Người con nghe cha tuyên bố với mọi người lòng càng thêm vui mừng, tự nghĩ: “Ta đời trước có phước báo gì mà được lãnh kho tàng quý báu này?”

Các vị Thanh văn lại thưa:

Bạch Thế Tôn! Ông trưởng giả giàu có ấy ví như Thế Tôn. Chúng Thanh văn Hữu học chúng con được gọi là con của Phật. Ngài cửu giúp chúng con thoát khỏi nỗi khổ trong ba cõi, như ông trưởng giả giàu có trở lại đưa đứa con thoát khỏi sự sống chết. Khí ấy, bạch Thế Tôn, Thế Tôn có vô số pháp bảo của bậc Thánh, dùng năm thần thông đoạn trừ màn ngăn che của năm ấm. Chúng con luôn tinh tấn tu tập theo giáo pháp ấy, đạt đến Niết-bàn cho là ấn chứng vi diệu, tinh tấn mong cầu không giải đãi, muốn được giải thoát tâm ý vắng lặng, nhờ tự thân tư duy thành thục nên đạt được rất nhiều. Nhưng Thế Tôn biết tâm lý chúng con vốn nương vào pháp thực hành, siêng tu thiền định và thường tin ưa, vì thấy chúng con lười biếng, tâm chí hạ liệt, không phân biệt, không có chí nguyện đối với kho pháp bảo quý giá của Như Lai, nên Thế Tôn đã dùng phương tiện chỉ cho chúng con thấy rõ kho tàng tuệ giác ấy, nhờ nó mà trừ được đói khổ và được trao ấn chứng vi diệu.

Kính bạch Thế Tôn! Ngày nay chúng con tuổi đã già, như Tôn-giả Đại Ca-diếp đây được Như Lai ấn chứng rất sớm là sẽ đạt đến giải thoát. Thế Tôn lại vì chúng con mà thị hiện giáo nghĩa trí tuệ lớn của Bồ-tát.

Chúng con phụng hành và đem chỉ dạy cho mọi người. Như Lai đã hiển bày đức lớn đều làm cho chúng con được thể nhập giáo nghĩa Như Lai. Vì sao?

Vì Thế Tôn đã khéo dùng tất cả phương tiện biết chúng con ý chí thấp hèn, không hiểu nổi giáo pháp sâu xa nên dạy hạnh Thanh văn. Chúng con sợ hãi các pháp trong sinh, già, chết ba cõi và các pháp sắc, thanh, hương, vị, xúc thô hèn, chỉ muốn tự độ mà không cứu độ tất cả chúng sinh, xa lìa phương tiện quyền biến, trí tuệ, đại Từ bi, thiền định Tam-muội, chỉ biết nhân tâm mà không thấy được căn nguyên của tất cả chúng sinh.

Ví như kẻ nghèo cùng mong cầu cơm áo, người cha ân cần muốn đem đến an lạc cho con, nhưng người con không hề hay biết. Thế Tôn dùng phương tiện tùy lúc thị hiện nên chúng con không nhận thấy, nay mới tự biết mình chính là con Phật.

Chúng con đã được Phật xót thương ban cho đại trí tuệ. Vì sao? Vì chúng con tuy là con Phật mà lại hạ tiện, khiếp nhược. Đến khi thấy tâm chúng con hoan hỷ kính tin Bồ-tát thừa nên Như Lai sau đó mới nói cho pháp lớn Đại thừa. Thế Tôn đã vì hai việc mà nói pháp ấy:

1. Vì chư Bồ-tát nên Như Lai hiện pháp cam lộ.

2. Vì hạng người thấp hèn, chí nguyện nhỏ nên Như Lai khuyến khích, chuyển hóa họ đi vào giáo nghĩa vi diệu.

Ví như người con kia cùng cha biệt ly nhau đã lâu, trên đường từ xa trông thấy cha không biết là ai nên rất sợ hãi, dần dần về sau nhìn cách thể hiện uy nghi mới biết đó là của mình. Phật cũng như vậy, chúng con không hiểu rõ pháp lớn của Bồ-tát, tuy là con của Như Lai, từ pháp sinh ra nhưng chỉ mong Niết-bàn, không có ý chí ngồi dưới gốc cây nơi đạo tràng hàng phục ma quân và độ thoát tất cả chúng sinh. Bọn chúng con tự cho rằng đã được giải thoát. Vì lý do đó nên ngày nay chúng con thấy, nghe mà chưa được thành tựu, không phải là bậc xuất gia, chưa trở thành bậc Sa-môn. Hôm nay Thế Tôn hiện các trí tuệ siêu tuyệt nên chúng con đã đạt được pháp trân bảo của Phật.

Đức Phật là cha, chúng con là con, cha con đồng một thể tánh, không có sai khác. Giống như vị trưởng giả khi sắp mạng chung, ở trước đại chúng tuyên bố cùng vua, quan, Bà-la-môn, trưởng giả và tất cả mọi người: “Hôm nay ta đem tất cả kho tàng châu báu để ban cho con ta.” Người con nghe xong vui mừng như được điều chưa từng có. Thế Tôn cũng như vậy, ban đầu dạy pháp Tiểu thừa tạm thời làm cho chúng con được an lạc, nhưng sau cùng Ngài vì bốn chúng Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, tất cả chư Thiên và loài người mà hiển bày giáo nghĩa căn bản. Thế Tôn khéo dùng phương tiện thuyết pháp tam thừa, không hề có hai thừa, huống gì có ba? Các vị Thanh văn này đều sẽ thành Phật. Chúng con vô cùng hân hoan không kể xiết.

Khi ấy Tôn-giả Đại Ca-diếp nói lại kệ rằng:

Chúng con hôm nay

Được nghe pháp âm

Ngạc nhiên vui mừng

Được chưa từng có

Vì thế cho nên

Tâm rất hoan hỷ

Lại biết Đạo Sư

Thanh âm êm dịu

Trân bảo tôn quý

Chứa nhóm thật nhiều

Tập hợp các báu

Ban cho chúng con

Chưa hề nghĩ đến

Cũng chẳng mong cầu

Được nghe pháp sâu

Tâm rất phấn chấn.

Ví như trưởng giả

Có một người con

Bé thơ không biết

Ngu si mê muội

Tự bỏ cha mình

Đi đến nước khác

Trôi nổi xứ lạ

Gặp nhiều hiền nhân.

Khi ấy trưởng giả

Lo sầu nhớ con

Về sau nghe biết

Vội vã kiếm tìm

Dạo khắp mười phương

Lòng thường lo nghĩ

Cha con cách biệt

Đã sáu mươi năm

Thăm hỏi mọi người

Muốn được gặp con

Liền đến xứ khác

Vào thành lớn kia

Dừng chân ở đó

Xây dựng lâu đài

Đầy đủ trang nghiêm

Thọ lạc năm dục

Vô số vàng ròng

Và các châu báu

Của cải quý giá

Minh châu, ngọc bích

Voi, ngựa, cộ xe

Rất nhiều vô số

Gia súc trâu, heo

Gà, vịt, dê, lừa

Thu chi lời lãi

Buôn bán, cấy cầy

Tôi tớ hầu hạ

Nhiều không kể xiết

Các sự tôn quý

Có vạn ức người

Lại được vua mến

Oai như quốc vương

Tất cả dân chúng

Kính trọng hướng về

Quan quyền thân thích

Ai cũng tôn trọng

Ví nhiều duyên cớ

Người đến tấp nập

Tìm kiếm rất đông

Không thể kể hết

Giàu mạnh như vậy

Mà luôn than khóc

Ta đã già nua

Chí lực suy yếu

Lòng thường suy nghĩ

Muốn được gặp con

Ngày đêm nghĩ nhớ

Không lúc nào nguôi

Hỏi nghe tin con

Lòng thêm phiền muộn

Con dại bỏ ta

Hơn sáu mươi năm

Kho tàng ta có

Tài sản lớn nhiều

Nếu ta chết đi

Ai người giao phó

Kế thừa cho ta

Người con ngu si

Nghèo cùng khốn khổ

Thường tìm cơm áo

Dạo khắp các nơi

Ưu lo suy nghĩ

Miệt mài khắp chốn

Tìm cầu dè sẻn

Phiêu bạt xa xôi

Tự lo sinh sống

Có khi được của

Lúc chẳng có gì

Khốn đốn tha hương

Ưu tư lo lắng

Bức xúc trong lòng

Gian lao khổ sở

Lần lượt trải qua

Đi không dừng nghỉ

Dần dần đi đến

Chỗ ở của cha

Quanh co lui tới

Tìm kiếm áo cơm

Từ từ tiến gần

Đến ngôi nhà ấy

Liền đến trước cửa

Từ xa trông thấy

Vị đại trưởng giả

Ngồi ngai sư tử

Đông người hầu hạ

Quyến thuộc vây quanh

Tiền của thu chi

Và đem bố thí

Có rất đông người

Đi theo phục dịch

Hoặc người tính toán

Vàng bạc châu báu

Ghi chép giấy tờ

Phân phối từng ban

Thu chi riêng biệt

Tính toán ít nhiều.

Khi ấy gã nghèo

Thấy cảnh như vậy

Đứng qua bên đường

Quán sát họ làm

Tự thân suy nghĩ

Sao ta đến đây

Đây chắc là vua

Hoặc là thái tử

Nêu không sao vậy

Sẽ bắt trói ta

Nếu như không đi

Bị ép sai khiến

Suy nghĩ như thế

Người nghèo bỏ chạy

Đời không trọng nghèo

Chẳng ưa kẻ thiếu,

Khi ấy trưởng giả

Ngồi ngai sư tử

Xa thấy con mình

Thầm lặng vui mừng

Sai ngay người hầu

Đuổi theo giữ lại

Gọi kẻ nghèo kia

Đến đây ta gặp.

Người hầu vâng lời

Đuổi theo bảo rằng

Buộc ngươi phải về.

Gã té xuống đất

Kinh hãi nghĩ thầm

Vô cớ bị hại

Sao lại bi bắt

Họ muốn gì đây.

Trưởng giả giàu có

Thấy con ngã lăn

Thương xót con mình

Vô cùng hạ liệt

Cũng không tin rằng

Ta là cha nó

Lại vẫn nghi ngờ

Không xét của cải.

Người cha phủ dụ

Nói với kẻ nghèo

Ta có vàng ròng

Cất chứa tại đây

Sẽ cấp cho ngươi

Đủ thức ăn uống

Giữ gìn trông coi

Phục dịch các việc

Châu báu ta có

Bị hư cũ nhiều

Bỏ nơi nhơ nhớp

Không ai sửa dùng

Ngươi hãy tùy tiện

Lấy làm của riêng

Của cải ta nhiều

Không ai dùng hết.

Người nghèo nghe bảo

Những lời như thế

Bèn vội tới nơi

Vâng lệnh thi hành

Theo lời trưởng giả

Không dám trái lệnh

Liền vào trong nhà

Sửa sang các việc.

Khi ấy trưởng giả

Bên trong cửa sổ

Quán sát người con

Biết làm thế nào

Tuy là con ta

Mà quá hạ liệt

Chỉ biết tính toán

Điều khiển xe thôi.

Ông từ trên lầu

Đi xuống dưới đất

Cởi áo nhơ bẩn

Thay đồ sang trọng

Đi thẳng đến chỗ

Làm việc của con

Bảo con đứng dậy

Cần làm việc gì

Ta sẽ cho ngươi

Rất khó gặp ngươi

Nhân đức bố thí

Xoa bóp chân ta

Rượu nồng ngon ngọt

Cấp cho thực phẩm

Giường ghế đồ dùng

Ngựa xe không thiếu

Lúc đó ta sẽ

Cưới vợ cho ngươi.

Trưởng giả thông tuệ

Dần dà dạy bảo:

Con nên nhận lãnh

Các việc của ta

Ví yêu mến ngươi

Tâm đừng nghi ngại

Người con lần hồi

Vào trong nhà cha

Buôn bán cai quản

Tính toán thu chi

Không để thiếu hụt

Ngày càng phát đạt

Đi tới đi lui

Răn dạy tôi tớ

Các món bảo vật

Ngọc sáng lưu ly

Đều đem cất giữ

Kho tàng trong nhà

Tất cả các chỗ

Đều biết tính toán

Suy nghĩ biết rõ

Lợi của tài sản

Nhưng vì ngu si

Riêng giữ kho nhỏ

Không bằng như cha

Ở tại bên ngoài.

Khi ấy gã nghèo

Một mình suy nghĩ

Người khác không có

Kho báu như ta

Người cha biết được

Ý chí con mình

Nó tự cho rằng

Được giàu vô tận.

Liền gọi con đến

Tư thân dạy bảo

Ta muốn giao phó

Tài sản của ta

Nên bảo ngươi rằng

Ta có tất cả

Vọ số tài sản

Sinh hoạt buôn bán

Tụ tập mọi người

Trước mặt quốc vương

Trưởng giả, Phạm chí

Các bậc Hiền nhân

Sai người công bố

Lớn nhỏ gần xa

Đây là con tôi

Bỏ tôi trốn đi

Đến nơi nước khác

Tìm cầu ăn mặc

Vô cùng nghèo khổ

Nay mới trở về

Cùng tôi xa cách

Hơn sáu mươi năm

Nay đến nước này

Mới được gặp lại

Ở nơi thành ấy

Mà quên mất tôi

Nơi đây kiếm sống

Tư nhiên đến đây

Tài sản của tôi

Không thiếu thứ gì

Sản nghiệp hiện tại

Rất là đầy đủ

Tất cả đều đem

Giao phó cho con

Con sẽ giữ gìn

Cơ nghiệp của cha.

Người con vui mừng

Việc chưa từng có

Ta vốn nghèo nàn

Của cải tự đến

Người cha biết con

Ý chí thấp hèn

Được các kho báu

Ngày nay an ổn

Đấng Đại Đạo Sư

Giáo hóa chúng con

Chúng con thấp hèn

Vui ưa pháp nhỏ

Phật độ chúng con

Khiến được an ổn

Rồi Ngài thọ ký

Sẽ thành Phật đạo

An trụ nơi đây

Lập hạnh rất nhiều

Vô số Bồ-tát

Tuệ lực vô lượng

Chỉ bày phân biệt

Đạo lớn tối thượng

Ca ngợi các duyên

Muôn ngàn thí dụ

Chúng con được nghe

Là con Đức Phật

Nên gắng phụng hành

Đạo lớn tối thượng

Nơi đáng kiến lập

Cho người mắt tuệ

Sẽ ớ thế gian

Được thành Phật đạo

Vì Đấng Thế Tôn

Thực hành như thế

Nuôi dưỡng ủng hộ

Nơi giáo pháp này

Phân tích giảng nói

Tuệ nghĩa tối tháng

Rồi sẽ cảm hóa

Tất cả chúng sinh

Chí nguyện chúng con

Tâm nghèo suy nghĩ

Nếu như được nghe

Những lời Phật dạy

Không chịu phát khởi

Trí tuệ Như Lai

Thấy Bậc Tối Thắng

Tuyên nói nghĩa đạo

Trong lòng tư nghĩ

Đã được Niết-bàn

Không có mong cầu

Trí tuệ tối thượng

Nhờ nghe Thế Tôn

Chư Phật các cõi

Được ý hy hữu

Sinh tâm vui mừng

Nơi pháp vắng lặng

Tất cả vô lậu

Đã được dứt trừ

Sau được diệt độ.

Do tư duy này

Không thành Phật đạo

Nỗ lực tu hành

Siêng trừ kiêu mạn

Giáo nghĩa chư Phật

Vi diệu tối thượng

Chưa từng khuyên giúp

Chỉ trụ Niết-bàn

Cho là cứu cánh

Tối thắng trọn vẹn

Được pháp vô vi

Xả bỏ ấm, cái

Ngày đêm tinh cần

Tu pháp nghĩa không

Thoát khỏi khổ đau

Não phiền ba cõi

Thế Tôn dạy bảo

Dùng các nhân duyên

Và các thí dụ

Đầy đủ các pháp

Diễn nói tối thắng

Thân sinh trí tuệ

Nếu như có người

Mong thành Phật đạo

Chúng con vì họ

Ban cho Pháp sự

Họ đạt nhưng con

Không thích bao giờ

Đấng Đại Đạo Sư

Khắp cõi thế gian

Quán sát tất cả

Những người như con

Lo sợ các việc

Làm cho lợi ích

Ân cần khuyên bảo

Khiến con tin ưa

Phương tiện quyền biến

Giống như người cha.

Ví như trưởng giả

Vô cùng giàu có

Biết chí con mình

Bần cùng hạ liệt

Mới đem châu báu

Ban phát cho con;

Đấng Đại Đạo Sư

Nói pháp hy hữu

Phân biệt, chỉ bày

Khéo dùng phương tiện

Biết rằng chúng con

Chí thích thấp hèn

Điều phục tâm con

Mới ban pháp lớn.

Chúng con ngày nay

Đạt được vô lượng

Pháp chưa từng có

Như nghèo được của

Đức Phật giáo hóa

Được đạo quý báu

Các lậu đoạn trừ

Ngày đêm tu tập

Giới cấm, thiền định

Thọ trì giáo nghĩa

Tuân lời Đạo Sư

Nay con đã đạt

Đạo lớn Thế Tôn.

Quyến thuộc vây quanh

Tu hành tinh tấn

Nỗ lực ngày đêm

Phạm hạnh thanh tịnh

Nương Đấng Pháp Vương

Tuệ giác sâu xa

Mà được đầy đủ

Quả đức Vô thượng

Thành tựu vi diệu

Các lậu không còn.

Chúng con hôm nay

Mới là Thanh văn

Mới được nghe rõ

Phật đạo tối thượng

Được Phật hiển bày

Pháp âm toàn giác

Do đã được nghe

Vượt khỏi sợ hãi.

Hôm nay mới thành

Bậc Vô Sở Trước

Đem pháp ly thủ

Giảng cho chư Thiên

Thế nhân, ma vương

Và cho Phạm thiên

Tất cả quyến thuộc

Các loại chúng sinh

Khắp chúng hữu tình

Tạo lập tịch nhiên

Dứt bỏ sinh tử

Vô số ức kiếp,

Giáo pháp Phật giảng

Rất khó được gặp

Xét khắp thế gian

Không thể sánh kịp.

Ngày nay giác ngộ

Hết tội, giải thoát

Tu hành tinh tấn

Phấn chấn vui mừng

Chúng con quay về

Đảnh lễ bậc Thánh

Sở nguyện viên thành

Như cát sông Hằng

Thực phẩm, y phục

Nhiều đến vô lượng

Giường nằm, ngọa cụ

Thuần khiết sạch sẽ

Gỗ hương Chiên-đàn

Lấy làm nhà cửa

Đệm ngồi mềm mịn

Để trải lên trên

Nếu người tật bệnh

Vô số thuốc thang

Đem đến cúng dường

An trụ độ tận

Bố thí nhiều kiếp

Những gì đã chứng

Không bị mất đi

Pháp Phật cao xa

Vô lượng vô hạn

Đủ thần túc lớn

Kiến lập pháp lực

Phật là Đại vương

Kham nhận kiên cường

Thường tu kiên cố

An ủi khuyên dạy

Luôn theo đúng thời

Chưa từng buông bỏ

Vọng tưởng phước hạnh

Nơi tất cả đời

Pháp Đấng Trung Tôn

Đều có lực lớn,

Như Lai tối thắng

Thắp đèn sáng lớn

Dạy rất nhiều người

Biết hàng chúng sinh

Tùy sức của họ

Bao nhiêu chủng loại

Điều họ ưa thích

Trăm ngàn nhân duyên

Tùy thuận mở bày,

Như Lai đều biết

Tánh hạnh chúng sinh

Tâm niệm người khác

Tất cả quần sinh

Vì nhiều lỗi lầm

Đưa đến đọa lạc

Đem pháp thị hiện

Đưa về tuệ giác.

*

Phẩm 5: CÂY THUỐC

Nghe ĐH Minh-Quang Nguyễn Lê Đức giảng tại Chùa Hải-Đức hồi 11 giờ sáng ngày 29 tháng 11 năm 2009. Bấm chuột phải để hạ tải.

Lúc bấy giờ, Đức Thế Tôn bảo Tôn giả Đại Ca-diếp và các vị trưởng lão Thanh văn:

Hay thay, hay thay, Đại Ca-diếp! Ông đã ca ngợi như thật về Như Lai. Đúng như lời ông nói, công đức của Như Lai theo như thí dụ vừa rồi còn gấp bội hơn thế, vô lượng không thể nghĩ bàn, không thể đo lường bằng số kiếp giới hạn, tất cả mọi số tính toán đều không phù hợp với Như Lai. Trí tuệ của Như Lai vô cùng vô hạn, không ai có thể nghĩ hết những chỗ Như Lai đã trải qua và không thể tìm hết cội nguồn của nó. Như Lai thâm nhập hết tất cả các pháp nghĩa, quán sát biết tất cả tâm niệm của chúng sinh trong thế gian, thông suốt đến chỗ tận cùng, phân biệt tất cả. Như Lai làm cho mọi người hiểu rõ trí tuệ phương tiện, khuyến khích và an lập cho tất cả chúng sinh đến giải thoát và hiển bày trí tuệ rộng lớn khiến cho chúng sinh thâm nhập tuệ giác của Phật.

Ca-diếp! Ví như trong cõi tam thiên đại thiên, nơi ấy có các cây cỏ thuốc, tre lau, rừng cây lớn nhỏ, gốc rễ, cành, nhánh, hoa, trái, bao nhiêu giống loại màu sắc khác nhau đều sinh ra trên đất hoặc trên núi cao, hoặc giữa ghềnh đá, gò nổng, suối, khe, hang… Khi ấy một trận mưa lớn nhuần thấm khắp các cỏ cây, vườn rừng, tùy theo giống loại của mỗi cây mà tất cả đều phát triển tươi tốt. Những ai không tin tưởng, kính ngưỡng Như Lai cũng đều được như thế. Nước mưa cùng một loại rơi khắp cõi Phật, tất cả đều được sinh trưởng trên đất ấy như nhau không khác.

Đức Như Lai Chánh Giác giảng nói pháp sâu xa cũng như trận mưa lớn. Đấng Đại Thánh xuất hiện ở thế gian là vì tất cả chư Thiên, Nhân dân, A-tu-luân, Quỷ, Thần, Rồng. Như Lai hiện ra oai thần rực rỡ tràn khắp cõi nước, ngay trong hiện tại trước chúng, xướng lên âm thanh lớn, dùng trí tuệ phân biệt giáo nghĩa, bằng tiếng oai hùng như sư tử mà tuyên bố lời này:

Ta là Đấng Như Lai sẽ làm cho chư Thiên, nhân dân trên trời hay khắp nhân gian, người chưa được độ sẽ được độ, người chưa giải thoát sẽ được giải thoát, người chưa an sẽ được an, người chưa chứng Niết-bàn sẽ làm cho chứng Niết-bàn. Đời hiện tại và các đời sau Như Lai đều biết đúng như thật. Như Lai dùng trí tuệ toàn giác có thể thấy khắp tất cả, độ người đáng độ, giải thoát người đáng giải thoát, làm cho an những người chưa an. Ai chưa được Niết-bàn, Như Lai làm cho được Niết-bàn, khiến cho tất cả đến đây nghe Như Lai thuyết pháp.

Khi ấy hàng Trời, Người, A-tu-luân, Kiền-đạp-hòa, Ca-lưu-la, Chân-đà-la, Ma-hưu-lặc... tất cả vân tập đến chỗ Đức Thế Tôn đang giảng pháp nghĩa. Phật là Đấng chánh dẫn đạo, phân biệt rõ ràng con đường tuệ giác.

Đức Thế Tôn bảo Ca-diếp:

Bấy giờ có vô số ngàn muôn ức loại chúng sinh đều đến chỗ Như Lai nghe pháp. Như Lai thấy rõ tất cả căn cơ của họ nên dung sức đại tinh tấn mà thuyết pháp, dùng vô lượng lời lẽ phân biệt rõ ràng, dạy bảo khắp các chúng sinh, khiến cho họ không mất bản tâm, được an lành vui vẻ không có tai họa, hoặc được giải thoát ngay trong đời này, đời sau được sinh chỗ an lành tùy theo ý thích của họ, mỗi người đều được sinh một cách tự nhiên. Nếu có người quen tuân theo ái dục thì Như Lai vì họ thuyết kinh, hoặc khiến họ nghe nhận giáo pháp, xa lìa các nghiệp tham, chuyển dần theo con đường trí tuệ Như Lai. Nhờ theo bản lực vô lượng như trên với tâm kiên cố nên họ thành tựu pháp thân bình đẳng. Giống như cơn mưa lớn, khắp cõi nước Phật đều được thấm nhuần nuôi dưỡng, sinh trưởng bình đẳng không sai khác.

Đức Như Lai giảng nói pháp một vị cũng như vậy, đưa đến vị giải thoát, xa lìa ái dục, đạt đến Niết-bàn, đi vào trí tuệ toàn giác. Hoặc có người nghe và thọ trì, đọc tụng, vâng giữ giáo pháp Như Lai mà họ lại không tự tỉnh thức, không quán niệm. Vì sao?

Đó là do chủng loại và căn tánh khi xưa của những chúng sinh ấy. Theo chỗ nhớ nghĩ của họ, đã nghĩ, đang nghĩ có thể làm những việc gì; những việc đã làm, đang làm và sẽ làm. Theo các nhân duyên ấy mà sẽ đạt đến đâu và cần phải nói thế nào, chỉ có Như Lai mới thấy biết hết sự việc trên ở nơi nào và cõi nào. Như nước mưa bình đẳng nhuần thấm cỏ thuốc trong rừng; các loại cỏ thuốc màu trắng, đen, xanh, đỏ, cao, vừa, thấp.

Đức Thế Tôn đối với các hạng chúng sinh đều hiện chỉ một vị, đưa họ vào vị giải thoát, cho đến Niết-bàn, độ những người chưa độ, đến Niết-bàn cứu cánh, làm cho họ đạt đến cùng một cõi, cùng một pháp vị, tâm không còn sợ hãi và được giải thoát. Như Lai giáo hóa làm cho chúng sinh được tin ưa. Ngài bảo bọc, nuôi dưỡng, che chở, khiến chúng sinh đạt đến trí tuệ thông suốt. Như Lai ca ngợi, phân tích rõ ràng, kiến lập giáo pháp của đấng Hiền thánh cũng như những điều vừa rồi Ca-diếp đã nói.

Đức Thế Tôn muốn lập lại nghĩa trên nên nói kệ:

Ta xuất hiện thế gian

Làm vua pháp nhân hòa

Vì chúng sinh thuyết pháp

Theo chỗ họ tin ưa

Ý mạnh mẽ oai hùng

Kiên trì phân biệt nói

Nhiều chúng sinh thọ trì

Chẳngy vội giảng cho họ

Trí tuệ Phật khó hiểu

Nếu người thiếu trí nghe

Sẽ sinh lòng hoài nghi

Liền bỏ mất lòng tin

Tùy theo cảnh giới nói

Theo sức chúng kham nhận

Lại dạy các pháp lợi

Vì chúng hiện chánh pháp

Ví như vầng mây đen

Nổi lên trên hư không

Mưa khắp thế giới Phật

Che phủ khắp đất đai

Phóng chớp sáng chói lòa

Hơi nước tỏa xung quanh

Tiếng sấm lớn vang rền

Muôn loài đều hoan hỷ

Nhật nguyệt bị che khuất

Trừ nóng được mát mẻ

Vì trời sắp đổ mưa

Mây giăng khắp bầu trời

Trận mưa đó khắp cùng

Tuôn xuống nhiều vô lượng

Mưa chan hòa cõi Phật

Khắp nơi đều ướt đẫm

Đúng thời mưa tuôn tràn

Đại địa đều nhuận thấm

Suối khe đang khô cạn

Tất cả được tràn đầy

Nhờ trận mưa thấm nhuần

Các nguồn đều tràn dâng

Nơi đồng trống hang sâu

Cây cối trong rừng vắng

Nẩy mầm non xanh tốt

Vô số cỏ thuốc sinh

Tất cả các giống cây

Lớn nhỏ đều tăng trưởng

Cỏ thuốc mọc xanh tươi

Cây cành nhiều hoa quả

Tùy tánh loại của chúng

Tất cả được thấm nhuần.

Các cây đại thọ

Rễ bám đất sâu

Mọc nơi hiểm trở

Và sống trong đó

Như các tà đạo

Tất cả ngu si

Lớn thêm trói buộc

Như voi bị xích

Gai gốc, cỏ cây

Lúa mạ, lau sậy

Gốc thân, cành lá

Và các hoa quả

Cây trái sum suê

Được nhiều lợi ích

Đội ân mưa xuống

Cỏ thuốc lớn dần

Theo từng giống loại

Do trận mưa đó

Đều được thấm nhuẩn

Đói khát no đủ

Tùy theo giống trồng

Mỗi loại mỗi khác

Nhưng lúc mưa xuống

Đều thuần một vị.

Này Đại Ca-diếp!

Phật cũng như vậy

Hiện ra nơi đời

Ví như trời mưa

Rưới đều khắp cả

Vì chúng thuyết pháp

Đem hạnh chân thật

Giáo hóa chúng sinh.

Phật nói pháp ấy

Khiến mọi người nghe

Ở trước chư Thiên

Nhân dân khắp chốn,

Phật là Như Lai

Đấng Lưỡng Túc Tôn

Khéo dùng phương tiện

Giống như trận mưa

Ta làm no đủ

Tất cả quần manh

Những kẻ ngu si

Thân hình khô gầy

Trừ các khổ nạn

Được an ổn lớn

Thiêu hết ái dục

Đạt đến Niết-bàn

Chư Thiên, nhân loại

Đều nghe ta nói

Tất cả nên đến

Chỗ Phật Đại Thánh

Ta là Như Lai

Bậc không ai sánh

Điều ngự giáo hóa

Nên hiện trong đời

Vì tất cả người

Phân biệt thuyết kinh

Hóa độ muôn ngàn

Chúng sinh vô số

Phật lại diễn bày

Bao nhiêu giáo nghĩa

Thường hành bình đẳng

Không có bỉ tử

Đạt đến giải thoát

Diệt độ Niết-bàn

Hoặc trước cửa nhà

Thuyết pháp kinh điển

Đó là tạo lập

Kho tàng đạo đức

Dầu cao dầu thấp

Đều dạy như nhau

Không có ghét yêu

Dứt trừ ái dục

Ta chưa từng nói

Những lời vô ích

Chưa từng ghét ganh

Các duyên phóng dật

Dùng tất cả pháp

Thuyết cho mọi loài

Nếu như chúng sinh

Nhiều không tính kể

Vì giảng kinh lớn

Không trái nhân duyên

Đi chậm hay nhanh

Hoặc đứng tại chỗ

Hay là ngồi yên

Vẫn luôn thiền định

Ví như rồng chúa

Mưa thấm nhuần nhiều

Thấm ướt cùng khắp

Tất cả thế gian

Hiện khởi mây tuệ

Tuôn xuống mưa pháp

Xướng lên yi diệu

Tùy bệnh cho thuốc

Luôn vì chúng sinh

Thuyết pháp Thánh híền

Khiến đều giữ giới

Như trời che mát

Những kẻ nói sai

Các hạnh sai trái

Muốn tiến gần pháp

Điều phục dần dần

Những kẻ hồ nghi

Bỏ các tà kiến

Khuyên dạy lợi ích

Thấy chốn an lạc

Bỏ chỗ hạ liệt

Xa lìa biếng nhác

Tùy ý nguyện họ

Mà khiến vào đạo

Đúng thời chỉ dạy

Khiến đều xả bỏ

Tâm niệm sai quấy

Thuận theo hạnh Phật

Chư Thế Tôn dạy

Rưới mưa pháp kinh

Làm cho đạt đến

Phật đạo tôn quý

Tùy sức chúng sinh

Khiếu được nghe nhận

Bao nhiêu đạo tuệ

Hóa lập pháp mầu

Trời người theo đó

Chí tánh an lạc

Phạm vương, Đế Thích

Chuyển luân thánh vương

Cũng giống như đây

Các thế giới nhỏ

Các loại cỏ thuốc

Mỗi loại khác nhau

Nhỏ nhoi thấp ngắn

Dược thảo như vậy

Ca-diếp hãy nghe

Ta sẽ nói hết,

Dùng tuệ nhận biết

Rõ pháp vô lậu

Chứng được Niết-bàn

Dạo chơi đến chốn

Ba minh, sáu thông

Cũng lại như vậy.

Trận mưa định ý

Cỏ thuốc Tam-mnội

Hoặc có đi đến

Ở chốn núi rừng

Người này thành tựu

Bậc Duyên giác thừa

Ngườí đó tu thiền

Sống hạnh thanh tịnh

Đó mới gọi là

Cỏ thuốc bậc trung.

Nếu như chí nguyện

Cầu đức Thượng sĩ

Ta sẽ ớ đời

Thành Đấng Đạo Sư

Thường hành tinh tấn

Thiền định nhất tâm

Đó mới gọi là

Cỏ thuốc bậc thượng.

Giả sử có người

Muốn tâm an trụ

Cứu giúp Từ bi

Sống nơi vắng lặng

Chóng được thành đạo

Làm Đấng Trung Tôn

Gọi đó cây lớn.

Là ví dụ này

Có thể tuyên thuyế t

Pháp không thoái chuyển

Kiến lập thần túc

Thực hành căn lực

Trưởng dưỡng duyên này

Thuốc thang trừ bệnh

Hùng sự độ thoát

Vô số ức người

Tùy thời thị hiện

Trong Phật đạo ấy

Đó chính gọi là

Rừng cây lớn nhất.

Ta vốn tùy thuận

Khéo dung phương tiện

Tất cả chư Phật

Cũng đều như thế

Giảng pháp tối thắng

Là pháp bình đẳng,

Giống như mây lành

Tuôn mưa khắp chốn

Vô ngại thần thông

Phật dùng dụ này

Ví như cỏ thuốc

Cùng mọc trên đất

Để họ được thấy

Nghĩa pháp vi diệu

Như Lai đã lập

Dùng phương tiện khéo

Ví dụ phân tích

Pháp sự toàn diện

Cũng như trận mưa

Tưới mọi cỏ thuốc.

Phật dùng mưa pháp

Rưới khắp thế gian

Được nhiều an ổn

Thành tựu khắp cả,

Quán sát mỗi người

Khả năng kham nhận

Giáo pháp Phật dạy

Đều cùng một vị.

Ví như mưa rơi

Núi, ghềnh, cây cỏ

Và nơi khoảng giữa

Không có khác nhau,

Rưới ướt cây cối

Khắp cả rừng già

Mây dày bốn phía

Đầy tất cả cõi.

Giả sử thế gian

Hành pháp từ mẫn

Nên dùng kinh này

Đầy khắp thiên hạ,

Chỉ dạy cho đời

Khiến đều an ổn

Trời mưa cỏ thuốc

Hoa trái sum suê,

Các cỏ thuốc ấy

Dần dần lớn lên

Đó là La-hán

Các lậu đã hết.

Các hàng Duyên giác

Ở nơi rừng rậm

Pháp ta nói ra

Không có trần cấu,

Vô số Bồ-tát

Trí tuệ thấu đạt

Khắp cả ba cõi

Tất cả thực hành,

Ở trong chúng hội

Diễn đạo lớn này

Giống các cây kia

Ngày thêm lớn tốt,

Tiến tu Thần túc

Chuyên đạt Tứ thiền

Hoặc nghe Không tuệ

Tâm liền giải thoát,

Phóng hào quang sáng

Vô số ức ngàn

Đó là cây lớn

Mà lại thắm tươi.

Hoặc các Thanh văn

Chưa đạt Niết-bàn

Thế Tôn vì họ

Thuyết pháp cao tột,

Hoặc đem phân biệt

Thuyết giảng pháp này

Giống như mây nổi

Mưa xuống các cây,

Dần dần thêm lớn

Các cây cỏ thuốc

Hoa của mọi người

Nhiều không kể hết

Giữa ngay lúc ấy

Thuyết pháp nhân duyên

Mà vì mọi người

Hiện nơi Phật đạo

Tạm dùng phương tiện

Thuyết giảng giáo pháp

Tất cả Đạo sư

Cũng lại như vậy.

Thuyết giáo pháp này

Là pháp bậc nhất

Các chúng Thanh văn

Đều phải phụng trì

Thực hành duyên đây

Sẽ được hạnh Phật

Các La-hán này

Như thế không khác

Thế Tôn diễn nghĩa

Cứu cánh nơi đây

Giáo hóa Tiểu thừa

Đều được Phật đạo.

Đức Phật lại bảo Tôn giả Đại Ca-diếp:

Như Lai giáo hóa, chỉ dạy bình đẳng không thiên lệch. Ví như ánh sáng mặt trời chiếu khắp thiên hạ, ánh sáng ấy không chọn lựa chỗ nào nên chiếu và chỗ nào không nên chiếu, dù là cao, thấp, sâu, cạn, xấu, đẹp, thơm, hôi... đều chiếu soi như nhau không khác.

Đức Phật cũng như thế, dùng ánh sáng trí tuệ chiếu soi tất cả chúng sinh trong năm đường sinh tử, Bồ-tát, Duyên giác, Thanh văn, trí tuệ ấy không tăng giảm, mỗi chúng sinh tùy theo sự giác ngộ của tâm mình mà tự đạt đạo. Vốn không có ba thừa, do hạnh nguyện mà đưa đến như vậy.

Tôn-giả Ca-diếp bạch Phật:

Nếu không có ba thừa, làm sao có được bậc Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát?

Đức Phật dạy:

Ví như người thợ gốm dùng đất dẻo làm đồ vật đựng, hoặc đựng mật cam lồ, hoặc đựng bơ sữa, dầu mè, hoặc đựng rượu ăn uống… Đất bùn tánh chất nó như nhau nhưng khi làm đồ vật khác nhau thì chỗ dùng cũng không giống nhau. Pháp giải thoát cũng như vậy, bình đẳng không sai khác. Tùy theo chỗ thực hành của mỗi người mà thượng, trung, hạ có khác nhau.

Tôn-giả Ca-diếp lại thưa:

Bạch Thế Tôn! Giả sử khác nhau nhưng cứu cánh có giống nhau chăng?

Đức Phật dạy:

Sẽ giống nhau nhưng chỉ có người giác ngộ mới hiểu rõ việc này. Ví như có người sinh ra đã bị mù, không thấy được năm sắc, mặt trời, mặt trăng và mười phương. Người ấy cho rằng thiên hạ không có mặt trời, mặt trăng, năm sắc, tám phương và phương trên, phương dưới. Có người giải thích, người ấy vẫn không tin. Giả sử có vị lương y xem thấy nguyên nhân căn bệnh của người ấy: “Vì sao người ấy không thấy? Là do khi xưa vị ấy đã tạo tội nên nay mắt mù tối không thấy được ánh sáng, thân thể bị bệnh nặng. Thế nào gọi là bệnh nặng? Đó là bốn chứng bệnh phong, hàn, nhiệt, tích.”

Vị lương y thầm nghĩ: “Bệnh trạng của người này cho dù dung các dược liệu cũng không thể chữa khỏi. Trên Tuyết sơn có loại thuốc có thể trị được bốn bệnh ấy. Một là Hiển, hai là Lương, ba là Minh, bốn là An; đó là tên của bốn vị thuốc.

Lúc ấy vị lương y vì thương xót người bệnh, bày ra phương cách liền vào núi Tuyết hái bốn loại thuốc đem hợp lại rồi ngâm, giã, dùng để trị cho người mù mắt kia được sáng trở lại. Vị lương y lại châm cứu, tiêu tức, bổ tả, làm cho người mù sáng mắt, trong ngoài đều thấy rõ. Người ấy thấy ánh sáng mặt trời, mặt trăng, năm sắc, mười phương, khi ấy ông ta mới thật tin liền tự trách mình: “Ta thật là mù lòa, đã không thấy nghe mà tự cho rằng mình đã thông đạ.- Nay mắt thấy được mới tự biết rằng trước đây đã bị sự ngu si che phủ, nay đã thấy được xa gần, cao thấp, ta không còn lầm lẫn.”

Khi ấy có vị Tiên nhân sống nơi vắng vẻ, có năm phép thần thông, thấy nghe xuyên suốt khắp cả và thân có thể bay đi, tâm có thể biết ý nghĩ người khác, tự biết nguồn gốc sinh tử từ trước đến nay. Vị Tiên nhân bèn nói rõ cho người kia:

Ngươi chớ kiêu căng, tự cao cho rằng mình đã thấu đạt. Vì người ở trong nhà đóng cửa, không ra ngoài nên không biết mọi sự bên ngoài được. Ngươi không biết người khác nghĩ tốt xấu về mình, cũng không thể thấy xa được năm dặm mười dặm. Các tiếng nói hay tiếng trống đánh cách xa hai mươi dặm còn không thể nghe, trong gần mười hai dặm tự thân ngươi không thể đi bộ nổi, cũng không thể đạt được đến chỗ tự nhớ lại, thấy được lúc chưa sinh, còn ở trong thai, cũng không thể biết được. Ngươi thông đạt điều gì mà tự cho là thấy biết tất cả? Nay ta thấy ngươi thật là kẻ ở trong tối cho là sáng, ở trong sáng cho là tối.

Người kia hỏi:

Phải làm cách nào để được Thánh trí ấy? Xin ngài rủ lòng ban cho lời dạy bảo.

Vị Tiên nhân đáp:

Ngươi phải vào núi sâu sống một mình nơi thanh vắng, trừ hết các dục tình, lúc ấy mới đạt được.

Người ấy tuân lời vị Tiên nhân dạy, bỏ nhà vào chốn núi non, nhất tâm chuyên ròng không đắm say dục lạc, chứng được thần thông tự giác ngộ, quán sát những điều đã thấy không thể dung ngôn từ để gọi được. Khi đã được năm phép thần thông, không có chỗ ngăn ngại mới tự biết sở kiến xưa kia của mình bị tối tăm che phủ.

Đức Phật dạy:

Ta sẽ giải rõ ví dụ này. Con người sống trong năm đường ấm, cái sinh tử, chẳng rõ bản vô thì gọi là si, từ si đưa đến hành, từ hành đưa đến thức, từ thức đưa đến danh sắc, từ danh sắc đưa đến lục nhập, từ lục nhập đưa đến xúc, từ xúc đưa đến thọ, từ thọ đưa đến ái, từ ái đưa đến thủ, từ thủ đưa đến hữu, từ hữu đưa đến sinh, từ sinh đưa đến lão, bệnh, tử, ưu não khổ hoạn. Các tội tích tụ cho nên gọi là mù tối. Chính vì thương xót những người này bị trôi lăn trong ba cõi không dừng nghỉ không thể tự cứu vớt, nên Thế Tôn quán sát nguồn tâm của chúng sinh thấy có người bệnh nặng có kẻ bệnh nhẹ; có người nhiều trần cấu, có kẻ ít trần cấu; có người dễ giải thoát, có kẻ khó giải thoát; có người thấy xa, có kẻ thấy gần, phát tâm Bồ-tát đến không thoái chuyển, không còn sinh tử, đạt đến Phật quả, giống như người có mắt được làm Thần tiên. Vị lương y đó chính là Như Lai vậy.

Người không phát đại Bồ-đề tâm gọi là sống mù. Tham, dâm, sân hận, ngu si, sáu mươi hai tà kiến gọi là bốn bệnh. Không, Vô tướng, Vô nguyện, hướng đến cửa Niết-bàn gọi là bốn thứ thuốc.

Thuốc làm cho khỏi bệnh thì không có si, hành, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sinh, lão, bệnh, tử, ưu não khổ hoạn, tất cả đều được đoạn trừ. Chí không trụ thiện, cũng không trụ ác, như người mù hai mắt được sáng trở lại gọi là Thanh văn, Duyên giấc đã đoạn sinh tử, vượt khỏi ba cõi, thoát khỏi năm đường, tự biết rõ đã thông đạt, không bị nhầm lẫn. Lúc muốn diệt độ, có Phật thị hiện ra trước, đem chánh pháp giảng dạy khiến họ phát tâm Bồ-tát, không ở nơi sinh tử, chẳng trụ Níết-bàn, hiểu rõ nghĩa không trong ba cõi; tất cả các pháp hiện hữu trong mười phương như huyễn như hóa, như giấc mộng, như ngựa hoang, như tiếng vang trong núi thẳm; tất cả đều không sở hữu, không có gì hy vọng, không thủ không xả, không tối, không sáng.

Khi ấy họ mới thấy sâu xa, không có gì là không thông đạt, thấy được các pháp chưa từng thấy, hiểu biết rõ nguồn gốc sinh khởi của tất cả của chúng sinh.

Khi ấy Đức Thế Tôn nói lại nghĩa trên:

Ví như ánh mặt trời

Tỏa chiếu khắp muôn nơi

Ánh sáng không tăng giảm

Cũng không chọn tốt xấu.

Như Lai cũng như vậy

Trí tuệ như trời, trăng

Hóa cùng mười phương cõi

Cũng không có giảm tăng.

Như người thợ gốm kia

Nhào nặn đất làm đồ

Hoặc đựng mật cam lộ

Hoặc đựng dầu ăn, sữa

Vốn từ một chất đất

Thành vật dụng khác nhau

Nhưng chỗ dùng không khác

Vì chỗ đựng đặt tên.

Người vốn cũng như vậy

Không ba cõi năm đường

Theo hành nghiệp đọa sinh

Luân hồi không tự biết.

Rõ “Không” gọi Bồ-tát,

Bậc trung là Duyên giác

Chấp không, tuệ chưa giải

Thì gọi là Thanh văn.

Ví như người mù mắt

Không thấy ánh trời trăng

Năm sắc và mười phương

Cho rằng đời không có

Lương y xét nguyên nhân

Thấy bốn bệnh che lấp

Tự mẫn thương xót họ

Vào núi tìm thuốc thang

Hái thuốc hay diệu kỳ

Tên hiển, lương, minh, an

Ngâm, giã, hòa hợp lại

Để trị cho người mù

Gia giảm thêm châm cứu

Bệnh khỏi, mắt thấy sáng

Thấy trời, trăng, năm sắc

Mới biết mình tối ngu

Người không rõ tánh không

Đọa mãi đường sinh tử

Mười hai duyên buộc ràng

Không rõ nguyên nhân bệnh

Thế Tôn hiện ra đời

Quán sát gốc ba cõi

Tùy nhân sinh ra bệnh

Mà khai hóa tất cả

Rõ “Không” là Bồ-tát

Ý thấp là Duyên giác

Chán sợ khổ sinh tử

Nên rơi vào Thanh văn

Tự cho đạo đức cao

Không thể tự hiểu rõ

Người thấy được cứu cánh

Không có lo chướng ngại

Giống như vị Tiên nhân

Có đủ năm thần thông

Thương xót bảo người kia

Ngươi chấp chặt ngăn che

Không hiểu rộng sâu xa

Nơi tối cho là sáng

Ở trong không thấy ngoài

Tuy sáng cũng là tối

Vài mươi dặm có tiếng

Tai không thể nghe được

Hoặc người muốn ách hại

Không biết ý họ nghĩ

Muốn đến ngoài vài dặm

Phải đi bộ mới đến

Hoặc khi sinh lớn lên

Không biết việc trong thai

Rõ năm việc trong ngoài

Lúc ấy mới thông đạt

Sao lại sanh kiêu ngạo

Tự cho mình hơn hết

Người muốn được ngũ thông

Phai ở nơi thanh vắng

Chuyên tinh nghĩ nhớ đạo

Khi liễu ngộ pháp này

Phụng trì lời Phật dạy

Bỏ nhà vào núi sâu

Nhất tâm không nghĩ xấu

Liền đạt đến Thần tiên

Nếu đạt đến Thanh văn

Và được Duyên giác thừa

Tự cho tuệ đầy đủ

Bằng Niết-bàn chư Phật

Khi sắp muốn diệt độ

Phật liền đứng phía trước

Vì hiện pháp Bồ-tát

Tam đạt vô quái ngại

Tuệ giác đến vô cùng

Khéo tạm dùng phương tiện

Đạt Không, Vô tướng nguyện

Bồ-tát do đó sinh

Bốn Đẳng tâm, bốn ân

Đem khai hóa chúng sinh

Rõ tất cả như hóa

Như mộng, huyễn, sóng nắng

Như tiếng vang, thân chuối

Ba cõi không sở hữu

Không giữ cũng không bỏ

Không tối cũng không sáng

Không sinh tử Niết-bàn

Bình đẳng như hư không

Thấy cũng chẳng phải thấy

Mới thấy được tất cả

Cái nhìn ngay lúc ấy

Không phân biệt Tam thừa

Tất cả đều bình đẳng

Cứu giúp không hạn lượng.

Phẩm 6: THỌ KÝ CHO HÀNG THANH VĂN

Nghe ĐH Minh-Quang Nguyễn Lê Đức giảng tại Chùa Hải-Đức hồi 11 giờ sáng ngày 6 tháng 12 năm 2009. Bấm chuột phải để hạ tải.

Lúc bấy giờ, khi nói kệ xong, Đức Thế Tôn bảo tất cả các vị Tỳ-kheo:

Ta nay nói rõ, các vị Thanh văn kia cũng như Đại Ca-diếp đã từng cúng dường ba ngàn ức Đức Phật, nay sẽ phải cúng dường số lượng chư Phật như trước đây, tôn kính phụng thờ chư Phật Thế Tôn, nhận lãnh chánh pháp, vâng giữ tu tập. Sau khi cúng dường chư Phật ấy xong sẽ được thành Phật, cõi ấy tên là Hoàn minh, kiếp ấy tên là Hoằng đại. Đức Phật khi đó hiệu là Đại Quang Minh Như Lai Chí Chân Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Thành, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Đạo Pháp Ngự, Thiên Nhân Sư, Phật Chúng Hựu, trụ thế mười hai trung kiếp.

Sau khi Phật diệt độ, chánh pháp trụ ở đời hai mươi kiếp, tượng pháp cũng trụ đời hai mươi kiếp. Cõi nước của Phật ấy rất thanh tịnh, không có gạch ngói, gai góc, các thứ ô uế, núi non, hầm hố, vô cùng tịnh lạc, đất bằng lưu ly, cây bằng các thứ báu, dây bằng vàng ròng giăng mắc trên các hàng cây, có tám con đường giao nhau. Các cội cây báu thường trổ hoa báu, luôn sum suê tươi đẹp. Có vô số trăm ngàn muôn ức các vị Bồ-tát trong cõi ấy, số Thanh văn cũng thật vô lượng. Cõi ấy không có các việc ác và quan thuộc, các loài quỷ đều luôn tinh tấn theo hộ trì Phật pháp không hề trái phạm.

Lúc ấy Thế Tôn muốn lập lại nghĩa trên liền nói kệ:

Ta thấy Tỳ-kheo

Bằng Tuệ nhãn Phật

Ca-diếp hiện nay

Sẽ được thành Phật.

Ở đời vị lai

Vô số ức kiếp

Cúng dường chư Phật

Bậc Thánh Trung Tôn

Viên mãn đầy đủ

Ba ngàn ức Phật

Ma-ha Ca-diếp

Các lậu đã tận,

Tu tập trọn vẹn

Công hạnh ba phẩm

Sẽ được thành Phật.

Ông thân cận pháp

Cúng dường chư Phật

Tôn sư trời, người

Tích lũy hạnh lành

Sẽ thành Phật quả

Tối tôn, tối thượng

Bậc không sánh kịp

Là Đại Đạo Sư

Là bậc Đại Thánh.

Cõi nước Phật kia

Bậc nhất tối thắng

Thanh tịnh ly cấu

Bao nhiêu điềm lành

Tùy theo mong cầu

Đều được toại nguyện

Đất màu vàng tía

Vật báu trang nghiêm

Lại có các cây

Đều bằng trân bảo

Đường xá trang nghiêm

Thẳng phân tám nẻo

Trời, người tán hương

Khắp nơi thơm ngát

Cõi nước khi ấy

Sẽ được như vậy

Bao nhiêu loại hoa

Giăng mắc trang hoàng

Tất cả loài hoa

Sắc màu vàng tía

Tỏa sáng ngân thanh

Dùng làm pháp tắc

Thường luôn vi diệu

Chưa ai từng thấy.

Các chúng Bồ-tát

Vô số ngàn muôn

Tâm chí an định

Có sức đại thần,

Các chúng Thánh trí

Theo kinh Đại thừa

Số không thể tính

Muôn ức trăm ngàn,

Tuyệt không các lậu

Bền chí vâng giữ

Có chúng Thanh văn

Pháp Phật tối thắng

Nếu dùng Thiên nhãn

Muốn tính suy lường

Số chúng đệ tử

Quyết không thể được.

Phật ấy trụ đời

Mười hai trung kiếp

Chánh pháp sẽ trụ

Hai mươi trung kiếp;

Tượng pháp cũng trụ

Số kiếp như trên

Phật Đại Quang Minh

Công đức như thế.

Lúc ấy các vị Hiền giả Đại Mục-kiền-liên, Tu-bồ-đề, Ma-ha Ca-chiên-diên… đồng lòng đứng lên cúi đầu chiêm ngưỡng dung nhan rực rỡ của Đức Phật, mắt không lay động, thành kính lễ sát chân Đức Phật. Tất cả đều đọc kệ tán thán:

Bậc Đại Hùng vô nhiễm

Đấng Thích Vương đại Từ

Đã xót thương chúng con

Tuyên nói khen hạnh Phật.

Phật nay biết chúng con

Xin thương truyền thọ ký

Được gặp pháp cam lộ

Tắm gội trong pháp âm;

Ví như kẻ đói khát

Được thức ăn thượng vị

Nghèo túng đang van cầu

Bỗng có người cho ăn.

Chúng con đều hoan hỷ.

Chúng con chí thấp hèn

Trái thời bỏ mọi người

Nên không được thọ ký,

Không tin trí Đẳng giác

Nên Phật không truyền trao

Nay chúng con ở đây

Đều không còn đói khát,

Thấy Thế Tôn khuyến phát

Được nghe pháp chí tôn

Chỉ mong được thọ ký

Thì mới được đại an.

Nguyện Thế Tôn giải nghi

Lân mẫn đại Từ bi

Thương hạnh tâm kém hèn

Pháp cam lộ dạy chúng.

Khi ấy Đức Thế Tôn biết tâm niệm của các vị Thanh văn Trưởng lão, liền bảo chúng Tỳ-kheo:

Các Tỳ-kheo nên biết! Vị đại Thanh văn Trưởng lão Tu-bồ-đề này sẽ theo hầu cận, cúng dường tám ngàn ba mươi ức trăm ngàn muôn Đức Phật, ở chỗ chư Phật tu tập phạm hạnh, tích lũy đầy đủ trọn vẹn công đức, sau đó trong tương lai sẽ được thành Phật, được xưng tụng hiệu là Như Lai Chí Chân Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Thành, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Đạo Pháp Ngự, Thiên Nhân Sư, Phật, Chúng Hựu. Kiếp ấy tên là Bảo âm. Khắp nơi trong cõi nước của Đức Phật ấy đều có các loại cây báu tự trang nghiêm, không có cát sỏi, gạch đá, núi hầm, hang hố. Các hàng cây đều phát ra âm thanh từ bi, hòa nhã. Nhân dân trong nước ấy giàu có vô lượng, nhà cửa, phòng xá, lầu gác nhiều vô số. Số chúng Thanh văn cũng nhiều vô lượng không thể tính đếm cho hết được và đều là bậc đã chứng được Túc mạng thông. Bồ-tát trong nước ấy cũng đông trăm ngàn muôn ức, vô lượng không thể tính đếm. Đức Phật ấy sẽ trụ đời mười hai trung kiếp. Sau khi Đức Phật diệt độ, chánh pháp sẽ trụ đời hai mươi trung kiếp, tượng pháp cũng trụ hai mươi trung kiếp. Đức Phật sẽ an tọa trên hư không vì tất cả chúng sinh giảng nói kinh pháp, khai hóa cho vô số trăm ngàn Bồ-tát.

Khi đó Đức Thế Tôn nói kệ:

Nay ta nói rõ

Các vị Tỳ-kheo

Đều nên lắng nghe

Lời Phật tuyên dạy.

Ông Tu-bồ-đề

Là đệ tử ta

Ở trong tương lai

Sẽ được thành Phật,

Gặp chư Thế Tôn

Tâm ý chí thành

Đầy đủ ba mươi

Muôn ngàn Đức Phật,

Sẽ ở thế gian

Huân tu đạo hạnh

Chí luôn mong cầu

Tuệ giác Như Lai.

Ở thời vị lai

Công hạnh viên mãn

Nhan sắc diệu kỳ

Ba mươi hai tướng

Rực rỡ tươi đẹp

Sắc thân vàng tía

Kiếp ấy trong lành

Tâm luôn Từ mẫn,

Cõi nước an vui

Hiện lên điềm lành

Muôn dân trông thấy

Khả ý vui mừng

Đều cùng nhau đi

Đến chỗ Đức Phật

Chúng sinh được độ

Vô lượng vô số,

Các chúng Bồ-tát

Không thể tính kể

Tâm đều giải thoát

Không còn thoái chuyển.

Nghe pháp tối diệu

Các căn thông lợi

Đều sẽ thuận kính.

Cõi nước Phật ấy

Số chúng Thanh văn

Thật đông vô lượng

Muốn biết hạn số

Tuyệt không thể được

Lục thông, tam đạt

Có đại thần túc

Giải thoát vô ngại

Đã được an ổn

Sức thần thông đó

Không thể nghĩ bà n

Nếu Phật giảng bày

Pháp bảo chư Phật

Trời, người đông đảo

Như cát rạch sông

Sẽ luôn chắp tay

Tư quy y Phật.

Phật ấy trụ đời

Mười hai trung kiếp

Chánh pháp sẽ trụ

Hai mươi trung kiếp,

Tượng pháp trụ thế

Số cũng như trên

Đấng Đại Hùng Sư

Việc đó như vậy.

Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn lại bảo các vị Tỳ-kheo:

Các Tỳ-kheo muốn biết chắc thật việc trong tương lai thì cần phải tin tưởng vào trí phân biệt bình đẳng của Như Lai. Đại Ca-chiên-diên, vị đệ tử Thanh văn này của ta, trong tương lai sẽ theo hầu hạ, cúng dường tám ngàn ức Đức Phật. Sau khi mỗi Đức Phật diệt độ sẽ xây dựng tháp cao bốn vạn thước, mỗi tháp dài rộng hai vạn thước, đều dùng các thứ báu vật như vàng bạc, lưu ly, pha lê, xa cừ, mã não, san hô, ngọc bích để tạo nên, dùng các thứ hương hoa, tạp hương, bột hương, gấm lụa, cờ lọng để cúng dường.

Sau khi ông đã cúng dường xong lại phải cúng dường hai mươi ức Đức Phật rồi sẽ thành Phật, có hiệu là Tử Ma Kim Sắc, Như Lai Đẳng Chánh giác, Mình Hạnh Thành, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Đạo Pháp Ngự, Thiên Nhân Sư, Phật Chúng Hựu. Cõi nước trang nghiêm, thanh tịnh, bằng phẳng, không có các điều xấu ác, danh tiếng đồn khắp, dùng lưu ly làm đất. Vô số các loại cây có các thứ báu vật như dây báu, gấm lụa màu vàng óng giăng mắc để trang hoàng.

Hoa của các cây ấy luôn nở sum suê, tươi tốt đầy khắp nơi. Cõi Phật ấy không có địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh mà chỉ có chư Thiên và loài người số đông vô lượng, lại có vô số trăm ngàn muôn ức Thanh văn và Bồ-tát để trang nghiêm cõi Phật. Đức Phật ấy sẽ trụ ở đời mười tiểu kiếp.

Sau khi Phật diệt độ, chánh pháp sẽ trụ hai mươi trung kiếp, tượng pháp cũng trụ hai mươi trung kiếp.

Khi đó Đức Thế Tôn liền nói kệ:

Các vi Tỳ-kheo

Đều nên lắng nghe

Thanh âm Phật ấy

Nhu nhuyễn tốt lành.

Ông Ca-chiên-diên

Đệ tử của ta

Sẽ cúng dường Phật

Vô số Đạo Sư

Tôn kính phụng thờ

Kính thành vô lượng

Trong vô số kiếp

Không thể tính đếm.

Chư Phật diệt độ

Xây dựng tháp thờ

Dùng hương và hoa

Cúng dường tháp Phật

Sau đó tương lai

Sẽ được thành Phật

Cõi nước trong lành

Không có dơ uế

Giáo hóa giảng dạy

Vô số chúng sinh

Mở bày hướng đạo

Cho khắp mọi người

Cõi ấy trang nghiêm

Mười phương tỏa sáng

Ông sẽ thành Phật

Dùng dụ giảng bày

Hiệu Tử Kim Sắc

Uy đức sáng ngời

Độ thoát chúng sinh

Trăm ngàn muôn ức

Vô số Bồ-tát

Và chúng Thanh văn

Đầy khắp cõi Phật

Số đông vô kể

Thường tu tinh tấn

Trong pháp của Phật

Đoạn trừ các ác

Díệt tận họa tai.

Bấy giờ Đức Thế Tôn lại bảo với bốn bộ chúng trong hội:

Nay Thế Tôn tuyên nói ông Đại Mục-kiền-liên, vị đệ tử Thanh văn của ta, sẽ phụng thờ, cúng dường tám ngàn Đức Phật, theo hầu vô số các Đức Thế Tôn. Sau khi chư Phật diệt độ, ông sẽ xây dựng tháp thờ xá-lợi, dùng bảy món báu như vàng bạc, lưu ly, pha lê, xa cừ, mã não, san hô, ngọc quý tạo thành. Các tháp ấy cao bốn vạn thước, dài rộng hai vạn thước. Ông lại dùng vô số các vật báu tốt đẹp, các loại hương hoa, tạp hương, bột hương, gấm lụa, cờ phướng lọng và tấu nhạc để cúng dường tháp Phật. Sau khi cúng dường các tháp ấy xong, ông lại phải kính thờ, theo hầu cận, cúng dường hai trăm vạn ức Đức Phật.

Vào đời sau cùng, ông sẽ được thành Phật, có hiệu là Kim Hoa Chiên-đàn Hương Như Lai Chí Chân Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Thành, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Đạo Pháp Ngự, Thiên Nhân Sư, Phật Chúng Hựu. Nước ấy tên là Ý lạc, kiếp ấy tên là Lạc mãn.

Thế giới của Đức Phật ấy tươi đẹp, an ổn, thanh tịnh, trong sạch. Mặt đất toàn bằng ngọc lưu ly rực sáng, cây cối hoa quả đều bằng bảy báu hợp thành. Khắp nơi đều có các loại hoa bằng ngọc quý kết thành rất trang nghiêm. Cõi nước ấy bằng phẳng, tốt đẹp, đầy đủ các thứ quý báu. Đức Phật sẽ lặng im an tọa, trú trong định Vô lượng nghĩa và vì tất cả Bồ-tát rộng giảng kinh pháp. Đức Phật ấy sẽ trụ đời hai mươi trung kiếp. Sau khi Phật diệt độ, chánh pháp sẽ trụ thế bốn mươi trung kiếp, thời kỳ tượng pháp cũng như vậy.

Khi ấy Đức Thế Tôn nói kệ:

Đại Mục-kiền-liên

Đệ tử của ta

Xả bỏ thân người

Cũng được tự tại,

Hai mươi vạn ức

Số kiếp như vậy

Đều sẽ cúng dường

Chư Phật, giáo pháp

Ở chỗ các Phật

Tu tập hạnh lành

Chí luôn mong cầu

Đạo của chư Phật

Theo hầu tôn kính

Chư Phật Thế Tôn

Phụng sự đầy đủ

Các Bậc Đạo Sư

Và sẽ vâng giữ

Truyền bá Thánh giáo

Trong bao nhiêu kiếp

Số ức trăm ngàn

Kính cẩn tuân hành

Không hề trái phạm.

Chư Phật Thế Tôn

Sau khi diệt độ

Ông dùng bảy báu

Xây tháp thờ Phật

Vì chư Như Lai

Kiến tạo, tu sửa

Dùng gỗ Chiên-đàn

Để làm kèo cột

Tán hương, tấu nhạc

Mà cúng dường tháp.

Ở đời cuối cùng

Việc làm đã xong

Ngôn thuyết an lành

Được người kính ngưỡng

Thương yêu chúng sinh

Việc làm như thế

Sẽ được thành Phật

Hiệu Kim Chiên-đàn

Phật ấy sẽ thọ

Hai mươi trung kiếp

Số kiếp an trụ

Đức hạnh như thế

Sẽ giảng pháp kinh

Cho chư Bồ-tát

Ở số kiếp ấy

Phân biệt thật nghĩa

Hàng Thanh văn lớn

Muôn ức trăm ngàn

Số đông vô lượng

Như cát rạch sông

Tam đạt, lục thông

Có đại thần túc

An trụ ở đời

Mà được sức diệu

Vô số Bồ-tát

Đều không thoái chuyển

Dũng mãnh tin cần

Có chí, trí tuệ

Tu hành như trên

Theo lời Phật dạy

Số ấy vô lượng

Không thể nghĩ bàn.

Phật diệt độ rồi

Đệ tử vô số

Chánh pháp sẽ trụ

Truyền khắp mười phương

Hai thời chánh, tượng

Bốn mươi trung kiếp

Chánh pháp chưa hết

Tượng pháp đã khai

Hàng chúng Thanh văn

Có thần thông lớn

Phật đều khuyến lập

Nương theo Đại thừa

Không trái pháp chân

Ở trong vị lai

Thàn Phật tự tại.

📜Vì sao trong bài có dấu “…”?

Dấu “…” là lối viết tắt có từ chính bản gốc Pāli, gọi là peyyāla. Kinh tạng nguyên thuỷ vốn được tụng thuộc lòng, nên những đoạn lặp lại y nguyên ở bài trước thường được rút gọn lại bằng một dấu lược thay vì chép lại toàn văn. Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu giữ đúng lối ấy. Vì vậy có bài trông ngắn, nhưng đó là hình thức chuẩn mực của kinh điển chứ không phải app thiếu nội dung hay bản dịch bị cắt. Phần bị lược có thể đọc đầy đủ ở các bài liền trước trong cùng phẩm.

Nguồn bản dịch: Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng KinhGiấy phép: Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh (Việt dịch) · nguồn: rongmotamhon.net (Liên Phật Hội) · EN: AI translation by Codex from Vietnamese source, awaiting source English

Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch do AI (Inti Sage) thực hiện: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.

🕯️ Thắp nến