Inti DharmaInti Dharma
Kinh điển
Đại Thừa — Tạng Bắc Truyền · Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh (Việt dịch)

Phật Thuyết Xuất Sanh Nhứt Thiết Như Lai Pháp Nhãn Biến Chiếu Đại Lực Minh Vương Kinh quyển 1

Tên chữ Hán:佛說出生一切如來法眼遍照大力明王經

📖5,360 từ · ~21 phút đọc
2

Lưu tiến độ đọc kinh

Tạo tài khoản miễn phí để lưu bài kinh, đánh dấu tiến độ và tiếp tục lộ trình học mỗi ngày.

Tạo tài khoản
Bản dịch đầy đủ (Tiếng Việt)

Như vậy tôi nghe. Một thời Đức Thế Tôn ngự ở trong lầu gác Đại Bảo trên núi Ma Ha Mẫu Chất Lân Na vì Chúng nói Pháp.

Bấy giờ tất cả chư Phật xưng dương tán thán. Kim Cương Thủ Bồ Tát Ma Ha Tát ( Vajra Pànïi Bodhisatvàya mahà satvàya ) ở nơi Chúng ấy cùng đến hội tọa, ngồi ngay đầu bên trên phía Đông của Tòa Phổ Biến Diễm Man Liên Hoa của Đức Thế Tôn.Đức Phật đưa bàn tay phải an ủi chúng sinh. Tiếp bên phải Đức Phật có vị Tứ Tý Đại Lực Minh Vương ( Caturbhùja mahà Bala Vidyaràja ) hướng tay trái về Đức Phật đỉnh lễ, tay phải cầm cây phất trần, tay trên bên trái cầm sợi dây Kim Cương, tay trên bên phải cầm cây gậy Kim Cương ( Kim Cương Bổng ) mắt của vị ấy như tóc màu đỏ, như đám lửa mạnh, như đỉnh cao vót trên ngọn lửa.

Tiếp theo là Kim Cương Thủ với các quyến thuộc

Tiếp bên phải là Giáng Tam Thế Minh Vương ( Trailokya Vijaya Vidyaràja )

Bên phải là Cam Lộ Quân Noa Lợi ( Amrïta Kunïdïlali ) với hình như nửa vành trăng phấn tấn uy mãnh, hình dung hung ác màu đỏ như Chu Sa. Vị Đại Khủng Bố Kim Cương này hay phá tất cả phiền não, nắm chắc Bản Tâm.

Tiếp theo là Thánh Giáng Tam Thế Minh Vương, Thánh Ma Ma Kế (Mamàki ) , Cam Lộ Quân Noa Lợi, Kim Cương Câu ( Vajra Anõku’sa ) , Kim Cương Sách ( Vajra Pà’sa ). Ở bên trong cửa ấy lại có 2 vị Phẫn Nộ Kim Cương (Krodha Vajra ) , bên trái là Trì Kim Cương Tố ( Vajra Pà’sa Dhàra ), bên phải là Chấp Kim Cương Bổng ( Vajra Danïdïa Dhàra )

Tiếp bên trái Đức Phật là Quán Tự Tại Bồ Tát ( Avalokite’savara Bodhisatva ) với các Quyến Thuộc ( Saheyàya ).

Tiếp bên phải Đức Phật là Thánh Bạch Y Quán Tự Tại Bồ Tát ( Aørya Panïdïara Vàsïinïi Avalokite’svara Bodhisatva ) với Đa La Bồ Tát ( Tàrà Bodhisatva) , Tỳ Câu Đê Bồ Tát ( Bhrïkutïi Bodhisatva ). Bên trái là Mã Đầu Minh Vương (Hàyagriva Vidyaràja ). Tiếp theo là Ma Ha Đại Bạch ( Mahà ‘Sveta ) , Đại Cát Tường Bồ Tát ( Mahà ‘Srì Bodhisatva ) . Nhóm như vậy có trăm ngàn vị Bồ Tát Ma Ha Tát.

Lại ở phương Đông là hàng Nhật Nguyệt Thiên ( Aøditya Deva và Candra Deva ) , Đề Đầu Lại Tra Thiên Vương ( Dhrïta Rasïtïra Devaràja ) , Đế Thích Thiên Vương ( Indra Devaràja ).

Phương Đông Nam là Diễm Ma ( Yama ) với Hỏa Thiên ( Agni Deva ) và các Đại Tiên ( Mahà Rïsïì )

Phương Nam là Diêm Mô Na La Diên ( Yamo Nàrayanïa )

Phương Tây Nam là La Sát Chủ ( Ràksïasa Adhipati )

Phương Tây là Thủy Thiên Long Chủ ( Udakadeva Nàga Adhipati )

Phương Tây Bắc là Phong Thiên ( Vàyu Deva )

Phương Bắc là Câu Vĩ La ( Kubera hay Kuvera )

Phương Đông Bắc là I Xả Nẵng ( I’sana ) , Đế Thích Thiên Chủ ( Indra Devàdhipati ) , Na La Diên Thiên ( Nàrayanïa Deva ) Sa Ha Thế Giới Đại Phạm Thiên Vương ( Sahalokàdhipati Mahà Bràhma Devaràja ), Ma Hê Thủ La (Mahe’svara ) , các Thiên Chúng ( Devànàmï )

Nhóm như vậy có vô lượng vô số chư Thiên với các Thiên Nhân thanh tịnh , mỗi mỗi vị đều có quyến thuộc của mình vây chung quanh , đứng trước mặt Đức Như Lai , cung kính chắp tay chiêm ngưỡng Tôn Nhan ( Khuôn mặt của Đức Thế Tôn ).

Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo Kim Cương Thủ Bí Mật Chủ ( Vajrapànïi Guhyakàdhipati ) rằng:” Này Bí Mật Chủ ! Nếu có người trì Đại Giáo Minh Vương Kinh này thì vì họ mà nói Chú là:

Nẵng mô la đát-nẵng đát-la dạ dã

Nẵng mạc thất-chiến noa phộc nhật-la bá noa y, ma hạ dược xoa tế nẵng bát đa y

Án. Chỉ ly chỉ ly , phộc nhật-la , kế ly chỉ la dã, sa-phộc hạ

Án. Mụ lật-đà-nẵng dã, sa-phộc hạ

La la tra dã, sa-phộc hạ

Tác sô sa dã, sa-phộc hạ

Ô nga-la dã, sa-phộc hạ

Át để-dục nga-la dã, sa-phộc hạ

Lạc cát-đam bà dã, sa-phộc hạ

Phộc nhật-la khát tắc-đa dã, sa-phộc hạ

Bá thiết hát tắc-đa dã, sa-phộc hạ

Khát đăng-nga , hát tắc-đa dã, sa-phộc hạ

Ba la truật, hát tắc-đa dã, sa-phộc hạ

Đạt nậu lật-đà la dã, sa-phộc hạ

Mẫu sa la , hát tắc-đa dã, sa-phộc hạ

Tác ca-la , hát tắc-đa dã, sa-phộc hạ

Để-lị thâu la , hát tắc-đa dã, sa-phộc hạ

Hột-lị na dạ dã, sa-phộc hạ

Ô ba hột-lị na dạ dã, sa-phộc hạ

Tán noa , kế ly chỉ la dã, sa-phộc hạ

Phộc la , kế ly chỉ la dã, sa-phộc hạ

La đát-nẵng , kế ly chỉ la dã, sa-phộc hạ

Ma đắng nga dã, sa-phộc hạ

Nghê phộc lật-đà nẵng dã, sa-phộc hạ

Ma hạ phộc la dã, sa-phộc hạ

Nhạ trí la dã, sa-phộc hạ

La mộ na la dã, sa-phộc hạ

Ô thô sáp-ma cốt lỗ đà dã, sa-phộc hạ

Khắc nga dã, sa-phộc hạ

Diễm mẫu nẵng dã, sa-phộc hạ

Diễm ma lạc khất-xoa sa dã , sa-phộc hạ

Ma hạ tán noa dã, sa-phộc hạ

Nhạ la đà la dã, sa-phộc hạ

Ba lật-phộc đá la nhạ dã, sa-phộc hạ

Ba lật-phộc đá, đà la dã, sa-phộc hạ

Phộc nhật-la nan noa dã, sa-phộc hạ

Ma hạ thí la phộc dã, sa-phộc hạ

Cát đăng cát tra, thí la phộc dã, sa-phộc hạ

Đán nhạ nẵng dã, sa-phộc hạ

Phộc nhật-la hướng cát la dã, sa-phộc hạ

Phộc nhật-la nạp-bà la dã, sa-phộc hạ

Phộc nhật-lãm na-nga la dã, sa-phộc hạ

Nại-la ni noa dã, sa-phộc hạ

A mật-lị đá dã, sa-phộc hạ

Đát ba đà la dã, sa-phộc hạ

Đát bổ đà la dã, sa-phộc hạ

Ương nghê thí dã, sa-phộc hạ

A mục khư dã, sa-phộc hạ

Ô sắt-nị sa , la dã, sa-phộc hạ

Tất-vĩ đát đá phộc lan-noa dã, sa-phộc hạ

Tả sa phộc-lan noa dã, sa-phộc hạ

La ma duệ, sa-phộc hạ

Ma đắng nga, hát tắc-đá dã, sa-phộc hạ

Nghê phộc lật-đà nẵng, hát tắc-đá dã , sa-phộc hạ

Ma la vĩ ca la noa dã, sa-phộc hạ

Tát lật-ba mính khư la dã, sa-phộc hạ

Phộc nhật-la chỉ la dã, sa-phộc hạ

A bà dã, hát tắc-đá dã, sa-phộc hạ

Ác. Phộc nhật-la hát tắc-đá dã, sa-phộc hạ

Nhập-phộc la , bát-la giáng ca la dã, sa-phộc hạ

Mạt đề tất-thể la, phộc nhật-la dã, sa-phộc hạ

Ương câu la dã, sa-phộc hạ

Bát-la giáng câu la dã, sa-phộc hạ

Phộc nhật-la vĩ ná la noa dã, sa-phộc hạ

Phộc nhật-la mẫu sắt-tra duệ, sa-phộc hạ

Mính già vĩ na la noa dã, sa-phộc hạ

Phộc khất-xoa tát-đam bà nẵng dã, sa-phộc hạ

Ương nghê sắt-xá la nhạ dã, sa-phộc hạ

Nan noa la nhạ dã, sa-phộc hạ

Khát lăng-nga la nhạ dã, sa-phộc hạ

Ca phộc tả phộc la nhạ dã, sa-phộc hạ

Án, địa, a.

NAMO RATNATRAYÀYA

NAMAHÏ ‘SCANÏDÏA VAJRAPÀNÏÀYE MAHÀ YAKSÏA SENÀPATÀYE

OMÏ KILI KILI VAJRA KÌLIKÌLÀYA _ SVÀHÀ

OMÏ MÙRTTÀYA SVÀHÀ

LALÀTÀYA _ SVÀHÀ

CAKSÏUSÏÀYA _ SVÀHÀ

UGRÀYA _ SVÀHÀ

ATYA UGRÀYA _ SVÀHÀ

RAKTÀBHÀYA _ SVÀHÀ

VAJRA HASTÀYA _ SVÀHÀ

PÀ’SA HASTÀYA_ SVÀHÀ

KHANÕGA HASTÀYA _ SVÀHÀ

PARA’SU HASTÀYA _ SVÀHÀ

DHANURDHARÀYA _ SVÀHÀ

MUSALA HASTÀYA _ SVÀHÀ

CAKRA HASTÀYA _ SVÀHÀ

TRI’SÙLA HASTÀYA _ SVÀHÀ

HRÏDAYÀYA _ SVÀHÀ

UPAHRÏDAYÀYA _ SVÀHÀ

CANÏDÏA KÌLIKÌLÀYA _ SVÀHÀ

VARA KÌLIKÌLÀYA _ SVÀHÀ

RATNA KÌLIKÌLÀYA _ SVÀHÀ

MATANÕGÀYA _ SVÀHÀ

GOVARDHANÀYA _ SVÀHÀ

MAHÀ BALÀYA _ SVÀHÀ

JÀTÏHARÀYA _ SVÀHÀ

RAMODARÀYA _ SVÀHÀ

UCCHUSÏMA KRODHÀYA _ SVÀHÀ

KHANÕGÀYA _ SVÀHÀ

YAMA UDÀYA _ SVÀHÀ

YAMA RÀKSÏASÀYA _ SVÀHÀ

MAHÀ CANÏDÏÀYA _ SVÀHÀ

JÀLA DHÀRÀYA _ SVÀHÀ

PARVATA RÀJÀYA _ SVÀHÀ

PARVATA DHÀRÀYA _ SVÀHÀ

VAJRA DANÏDÏÀYA _ SVÀHÀ

MAHÀ ‘SIRA BALÀYA _ SVÀHÀ

KATÏAMÏ KATÏA ‘SIRA BALÀYA _ SVÀHÀ

DANSANÀYA _ SVÀHÀ

VAJRA SANÕKARÀYA _ SVÀHÀ

VAJRA UDBHAVÀYA _ SVÀHÀ

VAJRA ANÕGARÀYA _ SVÀHÀ

DRANINÏÀYA _ SVÀHÀ

AMRÏTÀYA _SVÀHÀ

TÀPA DHÀRÀYA _ SVÀHÀ

TÀPA UTTÀRÀYA _ SVÀHÀ

ANÕGÙ’SIYA _ SVÀHÀ

A MUKHÀYA _ SVÀHÀ

USÏNÏÌSÏA RÀJA _ SVÀHÀ

‘SVETATÀ VARNÏÀYA _ SVÀHÀ

‘SA’SA VARNÏÀYA _ SVÀHÀ

RÀMÀYE _ SVÀHÀ

MATANÕGA HASTÀYA _ SVÀHÀ

GOVARDHANA HASTÀYA _ SVÀHÀ

MÀRÀ VIKÀRANÏÀYA _ SVÀHÀ

SARVA MEKHARÀYA _ SVÀHÀ

VAJRA KÌLÀYA _ SVÀHÀ

ABHAYA HASTÀYA _ SVÀHÀ

AHÏ VAJRA HASTÀYA SVÀHÀ

JVALA PRAGAM KARÀYA _ SVÀHÀ

MATI STHIRA VAJRÀYA _ SVÀHÀ

ANÕKURÀYA _ SVÀHÀ

PRAGAM KULÀYA _ SVÀHÀ

VAJRA VIDARANÏÀYA _ SVÀHÀ

VAJRA MUSÏTÏÀYE _ SVÀHÀ

MEGHA VIDARANÏÀYA _ SVÀHÀ

BHAKSÏA STAMÏBHÀNÀYA _ SVÀHÀ

ANÕGUSÏTÏHA RÀJÀYA _ SVÀHÀ

DANÏDÏA RÀJÀYA _ SVÀHÀ

KHATVANÕGA RÀJÀYA _ SVÀHÀ

KAVACA BALA JAYA _ SVÀHÀ

OMÏ DHÌ A

Nẵng mô la đát-nẵng đát-la dạ dã

Nẵng mạc thất-chiến noa, phộc nhật-la bá na duệ, ma hạ dược xoa tế nẵng bát đá duệ

Đát nễ-dã tha: Hổ lỗ hổ, để sắt-xá để sắt-xá, mãn đà mãn đà, hạ nẵng hạ nẵng, na hạ na hạ, bát tả bát tả, amật-lị đế, hồng, phán tra, sa-phộc hạ

Án. A mật-lị đế, hồng, phán tra

Nễ-lị đá la sắt-tra-la dã, sa-phộc hạ

Vĩ lỗ trà ca dã, sa-phộc hạ

Vĩ lỗ bạc xoa dã, sa-phộc hạ

Củ vị la dã, sa-phộc hạ

Án nại-la dã, sa-phộc hạ

Tán nại-la dã, sa-phộc hạ

Aùt nễ để-dã dã, sa-phộc hạ

A ngân-nẵng duệ, sa-phộc hạ

Tát lật-phộc ma hạ lật-thủy vĩ-dã, sa-phộc hạ

Diễm ma dã, sa-phộc hạ

Vô-phối sắt-nỗ vị, sa-phộc hạ

Lạc khất-xoa sa địa bát đá duệ, sa-phộc hạ

Nẵng nga địa bát đá duệ, sa-phộc hạ

Phộc dã vị, sa-phộc hạ

Đạt nẵng địa bát đá duệ, sa-phộc hạ

Y sái nẵng dã, sa-phộc hạ

Ma hê thấp-phộc la dã, sa-phộc hạ

Thiết ngật-la dã, sa-phộc hạ

Phộc tố nễ phộc dã, sa-phộc hạ

Ma hạ một-la hám-ma nãi, sa-phộc hạ

Tất-lị thể vị, sa-phộc hạ

Sa la sa-phộc đế, sa-phộc hạ

Ổ ma nễ vị , sa-phộc hạ

NAMO RATNATRAYÀYA

NAMAHÏ ‘SCANÏDÏA VAJRAPÀNÏÀYE MAHÀ YAKSÏA SENÀPATÀYE

TADYATHÀ : HURU HURU TISÏTÏA TISÏTÏA BANDHA BANDHA HANA HANA DAHA DAHA PACA PACA AMRÏTE HÙMÏ PHATÏ _ SVÀHÀ

OMÏ _ AMRÏTE HÙMÏ PHATÏ

DHRÏTA RASÏTÏRÀYA _ SVÀHÀ

VIRÙDHAKÀYA _ SVÀHÀ

VIRÙPAKSÏÀYA _ SVÀHÀ

KUVERÀYA _ SVÀHÀ

INDRÀYA _ SVÀHÀ

CANDRÀYA _ SVÀHÀ

ÀDITYÀYA _ SVÀHÀ

AGNÀYE _ SVÀHÀ

SARVA MAHÀ RÏSÏÌ VIDYA _ SVÀHÀ

YAMÀYA _ SVÀHÀ

VISÏNÏUVI _ SVÀHÀ

RÀKSÏASÀDHIPATÀYE _ SVÀHÀ

NÀGÀDHIPATÀYE _ SVÀHÀ

VÀYUVI _ SVÀHÀ

DHÀNÀDHIPATÀYE _ SVÀHÀ

I’SANÀYA _ SVÀHÀ

MAHE’SVARÀYA _ SVÀHÀ

‘SUKRÀYA _ SVÀHÀ

VASUDEVÀYA _ SVÀHÀ

MAHÀ BRAHMANÏI _ SVÀHÀ

PRÏTHIVI _ SVÀHÀ

SARASVATI _ SVÀHÀ

UMA DEVI _ SVÀHÀ

Như vậy Minh Chú này nên ở trong Mạn Noa La ( Manïdïala _ Đàn) an trí Đại Lực Minh Vương ( Mahà Bala Vidyaràja ) , sau đó tác quán, mật tác hộ trì

Tiếp nên quy mệnh đỉnh lễ tất cả Phật, Pháp, Tăng, Độc Giác, Trưởng Lão Xá Lợi Phất, Chúng Thanh Văn…

Quy mệnh Đại Mâu Ni, tất cả Chúng Đại Bồ Tát của hàng Từ Thị (Maitrìya )

Đỉnh lễ Đức Chính Biến Tri

Quy mệnh Trì Kim Cương ( Vajradhàra ) với các quyến thuộc.

Lại nói Chân Ngôn là:

Án. Mẫu ninh, ma hạ mẫu ninh, ma hạ mẫu ninh

Chỉ ly chỉ ly, chỉ la vĩ kế

Ca tra, ca tra

Tam ma, tam ma

Phiến đá, phiến đá

Nan đá, nan đá

Địa la, địa la

Ma hạ mính già nậu lật-đà la

Hạ lị. Hạ lị

Củ chi, củ chi

Thân na, thân na

Tần na, tần na

Tát lật-phộc nậu sắt-tra nẫm

Nghê mẫu, nghê mẫu

Hạ la, nại-la ninh duệ kế tức

Ma ma ( Xưng tên mình )

Hề đế thủy noa

Tát lật-phộc thiết yết-la ninh

Na mạt đề, na mạt đề

Na ma ni, na ma ni

Tha, tha, tha, tha

Tả, tả, tả, tả

Bát tả, bát tả, bát tả, bát tả

Hồng, hồng, hồng, hồng

Thấp-lị phộc, ma hạ thấp-lị phộc

Ma đắng nghê, tán noa la

Hổ, hổ, hổ , hổ

Nhu hộ, nhu hộ

Hát thư

Bát-la để-dã lật-thể nẵng

Ma ma

Tát lật-phộc tát đát-phộc nẫm

Lạc khất-xoa, lạc khất-xoa

Tức ly, tức ly, tức ly, tức ly

Để sắt-xá tha, để sắt-xá tha, để sắt-xá tha, để sắt-xá tha

Ma để yết-lam mạt tha

Hồng, hồng, hồng, hồng

Hê, hê, hê, hê

Phán tra, phán tra, phán tra, phán tra

Diễn nễ nẵng để sắt-xá tha

Mãn đà hát tắc-đa

Bá na mục khư, cật-lị phộc, tác sô , hột-lị na dã, phộc tá,táùt lật-phộc

Ma ma

Hạ la, hạ la

Nhạ la, nhạ la, nhạ la, nhạ la

Một độ, một độ, một độ,một độ

Mãn đà, mãn đà, mãn đà, mãn đà

Ninh la, ninh la, ninh la, ninh la

Ninh lăng nga, phộc nhật-la đà la

Tam-ma la, tam-ma la

Hột-lị na diêm, ma ha ma lăng, nẵng mạc

Câu chi, câu chi, câu chi ninh

Tát lật-phộc bố đa ninh

Phộc nhật-la ma ly ninh

Phộc nhật-la đà la

Phộc nhật-la tra hạ tả

Tả lật-tả, tả lật-tả

Nan đá, nan đá

Mãn đá, mãn đá

Yết la, yết la, yết la

Chỉ lị, chỉ lị, chỉ lị, chỉ lị

Củ lỗ, củ lỗ, củ lỗ, củ lỗ

Hộ la, hộ la, hộ la, hộ la

Tam-ma la, ma hạ tát đát-phộc

Hồng, hồng, hồng, hồng

Hê, hê, hê, hê

Phán tra, phán tra, phán tra, phán tra

Tán noa, tán noa, tán noa, tán noa

Ma hạ tán noa

Hổ lỗ, hổ lỗ, hổ lỗ, hổ lỗ

Mẫu lỗ, mẫu lỗ, mẫu lỗ, mẫu lỗ

Ngật-lị hận-noa, ngật-lị hận noa, ngật-lị hận-noa, ngật-lị hận-noa

Phộc nhật-la bá ni

Hạ nẵng, hạ nẵng, hạ nẵng, hạ nẵng

Ma ma

Tát lật-phộc tát đát-phộc nẫm tả

Lạc khất-xoa, lạc khất-xoa

Tát lật-phộc thiết đốt-lỗ, mẫu lật-đà-nẵng đát nỗ dã, phán tra

Củ lỗ, củ lỗ, củ lỗ, củ lỗ

Phộc nhật-la bá ni, yết lật-ma , ma để yết-lan ma tha

Tam ma dã, ma đế, tam ma duệ, phộc địa phiến để

Đát tha nga đổ phộc vĩ nễ đổ bà vĩ, phiến để

Y hàm ninh mãn đát-la , diễn ná ninh nậu ca

Hạ la, hạ la, hạ la, hạ la

Phán tra, phán tra, phán tra, phán tra

Đát bà để, đát bà để, đát bà để, đát bà để

Bát tả để, bát tả để, bát tả để, bát tả để , bát tả để, tam-ma la

Phộc nhật-la bá ni, hột-lị na dựng

Đát tha nga đá, địa sắt-xá nẵng

Di ly, di ly, di ly, di ly

Hộ, hộ, hộ, hộ

Dã nễ tá đát, bà nga phộc

Y năng hột-lị na dã

Mạt để, yết-lãm mê dựng, dát tha nga đá

Bát-lỗ cát-đái băng tả, tần la nan đá lật-dã, tam bát-la dục cốt-đô bà vị dựng

Nại lị-bổ, nại lị-bổ, nại lị-bổ, nại lị-bổ

Nẵng mô Phộc nhật-la đà la dã, tát ba lê phộc la dã, tất đình đô mãn đát-la , bá na ninh, sa-phộc hạ

Nẵng mô phộc nhật-la đà la dã, ma hạ đế nhạ dã, sa-phộc hạ

Án. Hồng, phán tra, sa-phộc ha

Minh Vương này thường dùng uy đức bí mật làm hộ trì khiến cho tất cả chỗ làm đều được thành tựu.

Bấy giờ Đức Thích Ca Như Lai Ứng Chính Đẳng Giác ở ngay lúc đó phóng tỏa ánh sáng Diễm Man thanh tịnh chiếu khắp ba ngàn Đại Thiên Thế Giới, thiêu đốt tất cả cung điện của các Ma Vương ( Màrà ràja ) , lửa mạnh bao quanh làm thành một tụ, thiêu đốt không còn dư sót.

Khi ấy Ma Vương dùng Nghiệp Lực của mình mà chẳng khuất phục nổi. Các Ma Vương với Ma Chúng đó chuyển sinh độc hại, mỗi mỗi đều phẫn nộ. Tay cầm kiếm bén, cung tên, đao, vành xe, mọi loại khí trượng.Thời Kim Cương Thủ Bí Mật Chủ như Sở Hiện của Đức Phật vượt qua 21 hằng hà sa đẳng Thế Giới ở phương Đông đều khiến giáng phục hết tất cả Ma Vương. Hiện ra thân màu đỏ, mắt xanh biếc, ló 4 răng nanh ra bên ngồi, chau mày, trợn mắt, tóc dựng như trái châu, có uy đức lớn, tay phải cầm cây Bổng, tay trái cầm chày Kim Cương, dùng Rồng trang nghiêm, khốc áo da cọp.

Như vậy phương Nam, Tây, Bắc cũng lại vượt qua 21 hằng hà sa đẳng Thế Giới thảy đều hiện thân mà giáng phục.

Lúc đó vô số câu chi na dữu đa trăm ngàn vạn Ma Vương độc hại bị Ô Thô Sáp-Ma Đại Lực Minh Vương ( Ucchusïma mahà Bala Vidyaràja ) nhiếp phục, khủng bố làm cho tâm run sợ, rối loạn , mê muộn, tứ chi không còn sức, không còn hay biết, chẳng đối hồi thân mệnh. Tự Nghiệp của Ma Vương bị 5 loại cột trói.

Khi Kim Cương Thủ làm việc đó xong. Tức thời Dạ Ma Thiên Chúng, Đẩu Suất Thiên, Hóa Lạc Thiên, Tha Hóa Tự Tại Thiên Chúng đều cầm mọi loại dầu thơm, hương đốt với mọi Diệu Hoa, phướng,phan, dù, lọng, cột trụ… đến nơi Đức Thích Ca ngự mà cúng dường. Nhiễu quanh theo bên phải Đức Phật xong, liền lui về ngồi một bên

Khi đ1 Kim Cương Thủ Bồ Tát vì các Như Lai xưng dương tán thán xong. Đức Như Lai Đại Trí ở trong Pháp Đại Giáo Tối Thắng diễn ra Nhất Thiết Sở Cầu Tùy Ý Tự Tại Vô Lượng Uy Đức Dũng Mãnh Đại Lực Chân Ngôn. Vì muốn lợi ích an vui cho tất cả chúng sinh ở trên Trời với Thế Gian, liền nói Chú là:

“Án. Phộc nhật-la cốt-lỗ đà, ma hạ mạt la, hạ nẵng, na hạ, bát tả, mạt tha, vĩ ca la, vĩ đà-noan sa dã, nhạ chi la la mạo na la, ô thô sáp-ma cốt-lỗ đà, hồng, phán tra, sa-phộc hạ”

OMÏ VAJRA KRODHA MAHÀ BALA HANA DAHA PACA MATHA VIKIRA VIDHAVAMÏSAYA JÀTÏHARA RAMODARA UCCHUSÏMA KRODHA HÙMÏ PHATÏ SVÀHÀ

Bấy giờ Kim Cương Thủ Bồ Tát Ma Ha Tát bạch Phật rằng:” Thế Tôn ! Nếu có kẻ trai lành,người nữ thiện nghe Chính Pháp này mà thọ trì, đọc tụng , rộng vì người khác nói, ân cần,tinh tiến , tôn trọng, cúng dường thì người ấy được Quán Đỉnh trong tất cả Mạn Noa La. Được Chân Ngôn này liền hay nhiếp phục , phá hoại tất cả Chú Thuật”

Khi ấy Kim Cương Thủ Bí Mật Chủ lại bạch Phật rằng:” Thế Tôn ! Đức Phật nói Đại Lực Minh Vương Tâm Đà La Ni này. Nếu có người thọ trì liền được Dược Xoa ( Yaksïa ) , Dược Xoa Chúng, Lạc Khất-Xoa tô ( Ràksïasa La Sát ), Lạc Khất-Xoa Tô Chúng, Cấm Biện Noa ( Kumïbhanïdïa ) , Cấm Biện Noa Chúng, Nga Lỗ Noa ( Garudïda Kim Xí Điểu ) , Nga Lỗ Noa Chúng đều phát Thệ Nguyện mà tác Hộ Trì. Lại có Long Vương ( Nàgaràja ), Càn Đạt Bà ( Gandharva_ Tầm Hương Thần ) , Tất Xá Già ( Pi’sàca ) , Cưu Nạp-Ma Na, Noa Chỉ Ninh ( Dïàkinïì ) , Tát Dạ (Cchàya ) , Tát Hề La ( ‘Sabara ) , Câu Ba Tam-Ma La, Yết Tra Bố Đát Nẵng (Katïaputana ), Vị Đát Noa ( Vetàdïa ) … Tất cả Chúng ác danh khủng bố như vậy với các quyến thuộc chẳng có thể gây hại được”

Lúc đó Đức Thế Tôn khen Kim Cương Thủ Bí Mật Chủ rằng:” Lành thay ! Lành thay ! Ông dùng Đại Bi, vì các chúng sinh mà rộng hưng Phật sự”

Thời Kim Cương Thủ Bí Mật Chủ bạch Phật rằng:” Thế Tôn ! Nếu có người thọ trì, đọc tụng Kinh Điển này, nhớ giữ chẳng quên, rộng vì người khác nói thì người ấy liền được mau lìa Luân Hồi. Người nhìn thấy đều vui vẻ, cúng dường, lễ bái”

Thời Kim Cương Thủ lại nói Vô Lượng Dũng Mãnh Lực Chân Ngôn. Liền nói Chú là:

“ Án. Hồng, hồng, hồng, hồng. Phán, phán, phán, phán. Ốc Ngật-la, thâu la bá ni. Hồng, hồng, hồng, hồng,phán, phán, phán, phán.Án. Tô-tế để ninh nẵng na, hồng,hồng, hồng, hồng. Án, án, án, án,phán, phán, phán, phán. Nẵng mô ma hạ phộc la dã, sa-phộc hạ”

OMÏ HÙMÏ HÙMÏ HÙMÏ HÙMÏ PHATÏ PHATÏ PHATÏ PHAT UGRA ‘SÙRA PÀNÏIÏ HÙMÏ HÙMÏ HÙMÏ HÙMÏ_ PHATÏ PHATÏ PHATÏ PHATÏ

OMÏ JYOTIRNÀDA HÙMÏ HÙMÏ HÙMÏ HÙMÏ OMÏ OMÏ OMÏ OMÏ PHATÏ PHATÏ PHATÏ PHATÏ

NAMO MAHÀ BALÀYA SVÀHÀ

_ Án. Nhập-phộc la, nhập-phộc la. Tát lật-phộc nậu sắt-tra, ninh phộc la dã, ma ma. Tát lật-phộc tát đát-phộc nẫm tả, lậc khất-xoa, lạc khất-xoa, sa-phộc hạ.

Đỉnh Mật Ngôn:

OMÏ JVALA JVALA SARVA DUSÏTÏA STAMÏBHAYA STAMÏBHAYA DHURTA DUSÏTÏA NIVÀRAYA MAMA SARVA SATVÀNÀMÏ CA RAKSÏA RAKSÏA SVÀHÀ

_ Án. A nan đá, vĩ nhạ di, ma hạ tán noa, hồng, phán tra, sa-phộc hạ

Tọa Mật Ngôn:

OMÏ ANANDA VIJAYA MAHÀ CANÏDÏA HÙMÏ PHATÏ _ SVÀHÀ

_ Án. Phộc nhật-la địa-lị ca, hồng , phán tra, sa-phộc hạ

OMÏ VAJRA DHRÏK HÙMÏ PHATÏ SVÀHÀ

_ Án. Thất-lị thất-lị , thất la, ma ly ninh. Thất-lị , thất-lị thất ninh , thất-lị thất ninh, thất-lị thất ninh , thất-lị thất ninh, hồng, phán tra, sa-phộc hạ

Đỉnh Kế Mật Ngôn:

OMÏ SIRI SIRI ’SIRA MÀLINI SIRI SIRI SINI, SIRI SINI, SIRI SINI, SIRI SINI HÙMÏ PHATÏ _ SVÀHÀ

_ Án. Tát lật-phộc đát-ma nhạ, phộc nhật-la bát thiết. Nẵng mạc bát-la vĩ sắt-tra. Tát lật-phộc nậu sắt-tra, tát-đam phách dã. Hồng, hồng, hồng, hồng,phán tra, phán tra, phán tra, phán tra

OMÏ SARVA DHVAJA VAJRA PÀ’SE. NAMAHÏ PRAVISÏTÏA SARVA DUSÏTÏA STAMÏBHAYA HÙMÏ HÙMÏ HÙMÏ HÙMÏ _ PHATÏ PHATÏ PHATÏ PHATÏ

_ Án. Tô lỗ tô lỗ, ổ thô sáp-ma cốt-lỗ đà, thương khư, hạ la hạ la, hồng, phán tra

Khí Trượng Mật Ngôn:

OMÏ TURU TURU UCCHUSÏMA KRODHA ‘SANÕKHA _ HÀRA HÀRA HÙMÏ PHẠTÏ

_ Nẵng mô la đát-nẵng đát-la dạ dã

Nẵng mạc thất-chiến noa phộc nhật-la bá noa duệ, ma hạ dược xoa tế nẵng bát đá duệ

Án. Phộc nhật-la cốt-lỗ đà, ma hạ tán noa, hạ nẵng, na hạ, bát tả, mạt địa, vĩ-đặc noan sa dã

Y hê hề bà nga noan Hạ nẵng, hạ nẵng Hạ sa, hạ sa Na hạ, na hạ Bát tả, bát tả_ Vĩ đặc-noan sa dã

Nễ phộc nãi dần nại-la, bổ nĩ đế Tát lật-phộc đát-ma nĩ đáTát lật-phộc đát-ma nhạ Ma hạ đế nhạ Tô lỗ, tô lỗ Bổ lỗ, bổ lỗ Hổ lỗ, hổ lỗ Cốt lỗ-vãn, cốt lỗ-vãn, ma hạ cốt-lỗ vãn Cô nẵng trí, cô nẵng trí Thất ninh, thất ninh Chỉ ninh, chỉ ninh Khế ninh, khế ninh Kha kha, kha hế kha hế Cổ lỗ, cổ lỗ Tô lỗ, tô lỗ Củ lỗ, củ lỗ Đốt tra, đốt tra Đô la, đô la Hạ nẵng, hạ nẵng

Bố đá địa bát để, A tố la bổ la, vĩ đặc-phộc sa nẵng,ca la

Ổ thô sáp-ma cốt-lỗ đà, ma hạ phộc la Đạt ma, đạt ma Ca la, ca la Chỉ lị, chỉ lị Củ lỗ, củ lỗ _ Hồng, phán tra

Tô lỗ, tô lỗ_ Hồng, phán tra

Hạ nẵng, hạ nẵng _Hồng, phán tra

Na hạ, na hạ_Hồng, phán tra

Hột-lị duệ, hồng, phán, phán, phán, phán, sa-phộc hạ

Phụng Thỉnh Mật Ngôn:

NAMO RATNATRAYÀYA

NAMAHÏ ‘SCANÏDÏA VAJRAPÀNÏÀYE MAHÀ YAKSÏA SENÀPATÀYE

OMÏ VAJRA KRODHA MAHÀ CANÏDÏA HANA DAHA PACA MATHA VIDHVAMÏSAYA

EHYEHI BHAGAVAN HANA HANA HASA HASA DAHA DAHA PACA PACA _ VIDHVAMÏSAYA VIDHVAMÏSAYA

DEVÀNÀMÏ INDRA PÙJITE

SARVA ATMA JITA SARVA DHVAJA MAHÀ TEJA TURU TURU BHURU BHURU HURU HURU KURU KURU KURBAMÏ KURBAMÏ MAHÀ KURBAMÏ GUNÏATI GUNÏATI SINI SINI KINI KINI KHINI KHINI KHAKHA KHAHI KHAHI GURU GURU TURU TURU KURU KURU TUTÏTÏA TUTÏTÏA DHURA DHURA _ HANA HANA

BHÙTÀDHIPATI ASURA PÙLA _ VIDHVAMÏSANA KARA

UCCHUSÏMA KRODHA MAHÀ BALA DHAMA DHAMA KARA KARA KÌRI KÌRI KURU KURU _ HÙMÏ PHATÏ

TURU TURU HÙMÏ PHATÏ

HANA HANA HÙMÏ PHATÏ

DAHA DAHA HÙMÏ PHATÏ

AGRIYE HÙMÏ PHATÏ PHATÏ PHATÏ PHATÏ SVÀHÀ

_ Án. Phộc nhật-la cốt-lỗ đà, ma hạ đà la, đà la đà la, đa la dã đà la dã, hồng,phán tra

OMÏ VAJRA KRODHA MAHÀ DARA DARA DARA DARÀYA DARÀYA HÙMÏ PHATÏ

_ Án. Phộc nhật-la cốt-lỗ đà, ma hạ phộc la, tỷ hạ la tỷ hạ la, mãn đà mãn đà , hồng phán tra

OMÏ VAJRA KRODHA MAHÀ BALA VIHÀRA VIHÀRA BANDHA BANDHA HÙMÏ PHATÏ

_ Án. Phộc nhật-la cốt-lỗ đà , ma hạ phộc la, ca la ca la, thân na thân na, hồng phán tra

Trừ Diệt Chư Chướng Mật Ngôn:

OMÏ VAJRA KRODHA MAHÀ BALA KARA KARA CCHINDHA CCHINDHA HÙMÏ PHATÏ

_ Án. Phộc nhật-la cốt-lỗ đà, ma hạ phộc la, khắc kha khắc kha, nẵng xá dã nẵng xá dã, tát lật-phộc chỉ la-vĩ sương, hồng phán tra

OMÏ VAJRA KRODHA MAHÀ BALA KHADGA KHADGA NA’SÀYA NA’SÀYA SARVA KÌLA VISÏÀMÏ HÙMÏ PHATÏ

_ Án. Phộc nhật-la cốt-lỗ đà, ma hạ phộc la, đà ca đà ca, nhạ la nhạ la, hồng phán tra

OMÏ VAJRA KRODHA MAHÀ BALA DHAKA DHAKA JARA JARA HÙMÏ PHATÏ

_ Án. Phộc nhật-la cốt-lỗ đà , ma hạ phộc la, a ca lật-sái dã, a ca lật-sái dã, hồng phán tra

OMÏ VAJRA KRODHA MAHÀ BALA AKARSÏÀYA AKARSÏÀYA _ HÙMÏ PHATÏ

_ Án. Phộc nhật-la cốt lỗ đà, tất-đam phách dã, tất-đam phách dã, mô hạ dã mô hạ dã, hồng phán tra

OMÏ VAJRA KRODHA STAMÏBHÀYA STAMÏBHÀYA MOHÀYA MOHÀYA HÙMÏ PHATÏ

_ Án. Phộc nhật-la cốt-lỗ đà, ma hạ phộc la, nhập-phộc la nhập-phộc la, bát-la nhập-phộc la, bát-la nhập-phộc la, nễ tỳ-dạ nễ tỳ-dạ, nễ ba dã nễ ba dã, hồng phán tra

OMÏ VAJRA KRODHA MAHÀ BALA JVALA JVALA PRAJVALA PRAJVALA ADITYA ADITYA DIPÀYA DIPÀYA HÙMÏ PHATÏ

_ Án. Phộc nhật-la cốt-lỗ đà, ma hạ ma la, đát tra đát tra, đát noa dã đát noa dã, hồng phán tra

OMÏ VAJRA KRODHA MAHÀ BALA TATÏTÏA TATÏTÏA TATÏTÏÀYA TATÏTÏÀYA HÙMÏ PHATÏ

_ Án. Phộc nhật-la cốt-lỗ đà, ma hạ phộc la, hạ nẵng hạ nẵng, đà la dã đà la dã, bát tra bát tra, bát tra dã bát tra dã, mô hạ dã mô hạ dã, hồng phán tra

OMÏ VAJRA KRODHA MAHÀ BALA HANA HANA DARÀYA DARÀYA PATÏTÏA PATÏTÏA PATÏTÏÀYA PATÏTÏÀYA MOHÀYA MOHÀYA _ HÙMÏ PHATÏ

_ Án. Tôn phách, ninh tốn phách, hồng, ngật-lị hạ-noa, ngật-lị hạ-noa, hồng. Ngật-lị hạ-noa, bá dã hộc. Bà nga vãn, vĩ nễ-dã la nhạ, hồng phán tra, sa-phộc hạ

OMÏ SUMÏBHA NISUMÏBHA HÙMÏ GRÏHNÏA GRÏHNÏA HÙMÏ GRÏHNÏA APAYA HOHÏ BHAGAVAN VIDYARÀJA HÙMÏ PHATÏ SVÀHÀ

62 vị Trì Kim Cương đó ở tất cả Thời, mật làm Hộ Trì. Nếu có người thọ trì , đọc tụng Đà La Ni này cho đến Thiên Hỏa ( Lửa Trời ) vẫn có thể chế phục được, người chết sống lại, hay chống được Oan Ma, cầu xin con đều được.

Nếu hay chia bày Đất ấy. Lấy một bụm nước, dùng Đà La Ni chú vào thì hay giải được độc của tất cả rắn, rết… Người mang thai đều được an ổn, xa lìa các khổ não, tất cả chỗ làm đều được thành tựu, tất cả Chân Ngôn cũng được thành tựu. Nếu có người hay thọ trì Kinh này sẽ được đại an lạc.

Bấy giờ I Xá Nẵng Bộ Đa Chủ ( I’sana Bhùtàdhipati ) , vô số câu đê Thiên Chúng đem các Chúng Đẳng tự vây quanh mình ở trong Mạn Noa La ấy, khởi đỉnh lễ dưới chân Kim Cương Thủ Bồ Tát rồi bạch với Kim Cương Thủ Bồ Tát rằng:” Thánh Giả ! Nay hãy vì chúng tôi mà nói Đại Lực Bất Không Thành Tựu Vô Lượng Dũng Mãnh Lực Đà La Ni này . Chúng tôi rất yêu thích, cho đến Phạm Vương ( Bràhma Ràja ). Đế Thích Thiên ( Indra Deva ). A Tu La ( Asura ) cung kính lễ bái. Dược Xoa ( Yaksïa ), Lạc Khất-Xoa ( Ràksïasa ) , Phệ Đát Noa (Vetadïa) , Ca Tra Bố Đát Nẵng ( Katïaputana ) , Ổ nẵng-Ma ( Unma ) đều khiến bị khủng bố, hoặc đánh hoặc giết, điều phục chúng ấy. Khiến cho Chìa khóa khóa Môn Quan (cửa nẻo ) đều hư rới không dư sót. Mạn Noa La Chủ ấy hay làm xong tất cả mọi loại sự nghiệp”

Lúc đó Chúng Đẳng ấy xưng dương tán thán Bộ Đa Chủ rằng:” Lành thay ! Lành thay Bộ Đa Chủ ! Ông hay vì các chúng sinh mà hỏi Đức Như Lai Trì Kim Cương như vậy”

Bấy giờ Đức Thế Tôn Kim Cương Thủ dùng chày Kim Cương ném bánh xe Tự Tại ( Tự Tại Luân ) . Thời Kim Cương ấy mau chóng giáng xuống trụ trong hoa sen Kim Cương, liền nhập vào Du Già Quán. Tất cả Mạn Noa La Chúng nhìn thấy vị Đại Phẫn Nộ , tồn thân có rắn độc quấn. Nếu muốn nhiếp phục tất cả Ma Chúng trong Mạn Noa La ấy thì nên vào Tam Ma Địa này. Ấy là vào Nhất Thiết Chúng Sinh Đại Bi Tam Ma Địa , Quang Diễm Phổ Chiếu Tam Ma Địa, Kiến Pháp ái Lạc Tam Ma Địa, Hiện Nhất Thiết Ma Vương Quốc Thổ Tam Ma Địa, Ấn Tướng Tam Ma Địa, Hiện Nhất Thiết Chúng Sinh Quốc Thổ Tam Ma Địa, Bất Động Tam Ma Địa, Pháp Aùi Tam Ma Địa, Nhất Thiết Pháp Hiện Tiền Tam Ma Địa, Đại Lực Tam Ma Địa.

Nhập vào Tam Ma Địa của nhóm như vậy. Lúc muốn nhập vào sẽ có vô số câu chi na dữu đa trăm ngàn Ma Vương tự sinh khủng bố, tự nhìn thấy mình bị Đại Lực Minh Vương ( Mahà Bala Vidyaràja ) cột trói. Chúng Ma ấy liền lớn tiếng khóc lóc giống như bị Kiếp Hỏa đến thiêu đốt, tự thân mệnh không thể chạy thốt. Chúng ấy liền đến nơi Kim Cương Thủ Bồ Tát ngự, báo với Kim Cương Thủ Bồ Tát Ma Ha Tát rằng:” Thánh Giả ! Nguyện xin Ngài hãy nhìn vào mà thương xót cứu hộ cho con. Hỡi Đấng Thế Tôn ! Con rất đau khổ ! Đại Lực Minh Vương đã cột trói con, dùng roi đánh đập rất đau đớn khiến cho mất mạng trong phút chốc. Nguyện xin hãy cứu giúp ! “

Khi đó Kim Cương Thủ Bồ Tát từ Tam Ma Địa ấy đứng dậy bảo với tất cả 4 Chúng Đẳng trong Mạn Noa La rằng:” Đây là Thắng Đại Phước Đại Uy Đức Đại Phẫn Nộ. Như thị ! Như thị Thế Tôn ! Đây là Đại Phước, là Đại Uy Đức, là Đại Phẫn Nộ’

PHẬT THUYẾT XUẤT SINH NHẤT THIẾT NHƯ LAI PHÁP NHÃN BIẾN CHIẾU ĐẠI LỰC MINH VƯƠNG KINH

QUYỂN THƯỢNG ( Hết )

📜Vì sao trong bài có dấu “…”?

Dấu “…” là lối viết tắt có từ chính bản gốc Pāli, gọi là peyyāla. Kinh tạng nguyên thuỷ vốn được tụng thuộc lòng, nên những đoạn lặp lại y nguyên ở bài trước thường được rút gọn lại bằng một dấu lược thay vì chép lại toàn văn. Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu giữ đúng lối ấy. Vì vậy có bài trông ngắn, nhưng đó là hình thức chuẩn mực của kinh điển chứ không phải app thiếu nội dung hay bản dịch bị cắt. Phần bị lược có thể đọc đầy đủ ở các bài liền trước trong cùng phẩm.

Nguồn bản dịch: Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng KinhGiấy phép: Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh (Việt dịch) · nguồn: rongmotamhon.net (Liên Phật Hội) · EN: AI translation by Codex from Vietnamese source, awaiting source English

Bản dịch thuộc dịch giả/nguồn ghi ở trên. Phần tuyển tập, trình bày song ngữ và các bản dịch do AI (Inti Sage) thực hiện: © Inti Foundation. Vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn; không sao chép hàng loạt hay dùng cho mục đích thương mại khi chưa được phép.

🕯️ Thắp nến